Kinh tế Đông Á

Nhà giàu cũng khóc: Hàn Quốc và Đài Loan trước vấn đề “bẫy thu nhập cao"

Thứ hai, 17-04-2017 19:44 1422

Cả Hàn Quốc và Đài Loan đều có ngành công nghệ thông tin mạnh. Họ cũng có con đường đi giống nhau trong quá trình phát triển. Từ thập niên 1960 đến thập niên 1980, cả hai nước đều đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng dưới một chế độ được biết đến như là “chế độ độc tài kiến tạo" trong đó chính phủ coi mục tiêu phát triển là ưu tiên quốc gia. Sau giai đoạn tăng trưởng ban đầu, cả hai nước đều bị kìm hãm bởi chi phí gia tăng đi kèm theo sự tăng trưởng kinh tế. Họ đã bước vào giai đoạn mà ở đó họ xây ựng một hệ thống chính trị dân chủ từ cuối thập niên 1980 đến thập niên 1990, đồng thời đã dịch chuyển trọng tâm sang việc thúc đẩy giá trị gia tăng về kinh tế. 

 

Nguồn: South Korea, Taiwan face 'high-income trap', 17/04/2017

 

Biên dịch: Dương Huy Quang


Tại Hàn Quốc, một loạt các cuộc biểu tình gần đây đã thu hút hàng ngàn người dân phẫn nộ và đã dẫn tới việc luận tội và phế truất Tổng thống Park Geun-hye. Trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới để chọn ra tân tổng thống, một ứng cử viên đối lập được nhìn nhận như là người được ưu tiên.


Các sự kiện này khiến tôi nhớ lại cuộc chiếm đóng tòa nhà Quốc hội của sinh viên tại Đài Loan 3 năm trước. Giống như tại Hàn Quốc, việc công chúng biểu lộ thái độ phản đối đã dẫn tới sự thay đổi chính quyền.


Hàn QuốcĐài Loan cho đến nay đã có những con đường phát triển tương đồng, và đã trải qua những sự biến tương đồng. Đó là lý do tại sao tôi lo ngại hai nước này có thể rơi vào “bẫy thu nhập cao".


Khi giới trẻ phẫn nộ


Vào buổi sáng của ngày cuối cùng bà Park còn giữ chức Tổng thống Hàn Quốc, một trang tin tức của Đài Loan đã đăng một bài viết với nội dung Hàn Quốc có thể sẽ đối mặt với những hệ quả tai hại về kinh tế bất kể ai trở thành tổng thống tiếp theo của nước này. Bài báo trích dẫn ý kiến một giáo sư tại Đại học Yonsei của Hàn Quốc nói rằng vấn đề tạo việc làm, nhất là cho thanh niên, phải là ưu tiên hàng đầu cho chính quyền tiếp theo.


Việc bà Park bị phế truất được thúc đẩy bởi những người biểu tình cầm nến diễu hành trong các cuộc tuần hành kéo dài từ cuối tháng 10 đến tháng 12/2016 – nhiều người trong số này là thanh niên. Tỷ lệ thất nghiệp của Hàn Quốc hiện ở mức 5%, nhưng con số này ở tầng lớp thanh niên từ 15-29 tuổi là 12,3%. Sự bất bình âm ỉ trong giới trẻ đã thúc đẩy họ yêu cầu bà Park từ chức. Đó là lý do tại sao vấn đề tạo việc làm cho thanh niên là chìa khóa để làm dịu sự phẫn nộ của họ và để đạt được sự ổn định chính trị tại Hàn Quốc, dù cho tân Tổng thống sắp tới là ai.


Đài Loan cũng đã trải qua một diễn biến tương tự. Tháng 3/2014, sinh viên phản đối Tổng thống khi đó là ông Mã Anh Cửu đã chiếm tòa nhà Quốc hội (Legislative Yuan), sự kiện này đã châm ngòi cho một loạt sự kiện dẫn tới việc bầu bà Thái Anh Văn, một ứng cử viên đối lập, làm tổng thống trong cuộc bầu cử năm 2016. Giống như tại Hàn Quốc, thanh niên Đài Loan đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp cao. Tỷ lệ thất nghiệp ở đây hiện ở mức 3,85%, nhưng con số này trong giới trẻ từ 20-24 tuổi là 12,57%.

 

Hàn Quốc và Đài Loan là những nền kịnh tế phát triển và thể chế chính trị dân chủ. Họ cũng đang gặp những vấn đề của mình - vấn đề của người giàu!Hàn Quốc và Đài Loan là những nền kịnh tế phát triển và thể chế chính trị dân chủ. Họ cũng đang gặp những vấn đề của mình - vấn đề của người giàu!

 

Cả Hàn Quốc và Đài Loan đều có ngành công nghệ thông tin mạnh. Họ cũng có con đường đi giống nhau trong quá trình phát triển. Từ thập niên 1960 đến thập niên 1980, cả hai nước đều đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng dưới một chế độ gọi là “chế độ độc tài kiến tạo" trong đó chính phủ coi mục tiêu phát triển là ưu tiên quốc gia. Sau giai đoạn tăng trưởng ban đầu, cả hai nước đều bị kìm hãm bởi chi phí gia tăng đi kèm theo sự tăng trưởng kinh tế. Họ đã bước vào giai đoạn mà ở đó họ xây ựng một hệ thống chính trị dân chủ từ cuối thập niên 1980 đến thập niên 1990, đồng thời đã dịch chuyển trọng tâm sang việc thúc đẩy giá trị gia tăng về kinh tế. Điều này đã dẫn tới sự tăng trưởng của nhiều ngành công nghiệp mới, bao gồm ngành công nghiệp bán dẫn, và sự hình thành các thương hiệu Samsung của Hàn Quốc và Acer của Đài Loan như là những thương hiệu toàn cầu có tính biểu tượng.


Sự tăng trưởng của các nước mới nổi trở nên khó khăn hơn khi GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 10.000 USD/năm bởi lúc này mức lương cao hơn sẽ đẩy chi phí sản xuất lên cao hơn khiến việc cạnh tranh với những quốc gia mới với mức lương vẫn ở mức thấp trở nên khó khăn. Ngay cả trong tình huống đó, những nước này vẫn phải cố gắng phát triển nền công nghiệp của mình để duy trì tăng trưởng kinh tế. Sự trì trệ về tăng trưởng như vậy được gọi là bẫy thu nhập trung bình. Ví dụ như Brazil và Malaysia, cả hai nước đều có GDP bình quân đầu người ở quanh mức 10.000 USD, dường như đã rơi vào bẫy này. Hàn Quốc và Đài Loan là những trường hợp hiếm đã không rơi trở thành nạn nhân của hiện tượng này.


Giáo dục đại học


Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), GDP bình quân đầu người đã vượt mức danh nghĩa 100.000 USD vào năm 1994 tại Hàn Quốc và năm 1992 tại Đài Loan. Các con số sơ bộ cho năm 2016 lần lượt là 27.630 USD và 22.040 USD. Con số tương ứng của Nhật Bản là 370.300 USD.


Dù Hàn Quốc và Đài Loan có coi mức thu nhập của họ là ngang bằng với các nền kinh tế tiên tiến hay không, những con số này gợi ý rằng cả nước này đều đã vượt qua ngưỡng của một quốc gia thu nhập trung bình. Nhưng giờ đây họ phải đối mặt với một rủi ro tiềm tàng mới mà chúng ta có thể gọi là “bẫy thu nhập cao".


Thói thường, khi con người ta thấy thu nhập của mình tăng lên, họ sẽ bắt đầu tìm kiếm học vấn cao hơn. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học tiếp tục theo học đại học tại Nhật Bản là 50%, trong khi các con số tương ứng tại Hàn Quốc và Đài Loan là 70% và 90% mặc dù con số chính xác còn tùy thuộc vào việc người ta định nghĩa thế nào là đại học. Vấn đề là ở chỗ, trong khi sinh viên tốt nghiệp đại học đương nhiên sẽ tìm kiếm những công việc có mức lương cao cho tương xứng với trình độ của mình, thì số lượng những công việc như vậy không phải là nhiều. Tệ hơn là các nhà sản xuất có xu hướng chuyển sản xuất ra nước ngoài khi lao động trong nước trở nên đắt đỏ hơn, từ đó lại làm cho việc làm trong nước trở nên khan hiếm.


Lo âu về ổn định công ăn việc làm trong giới trẻ là vấn đề phổ biến ở những nước thu nhập cao, và Hàn Quốc cùng Đài Loan cũng không phải ngoại lệ. Khi mức thu nhập của mình tăng lên, điều phổ biến là các nước cũng trải qua sự lão hóa dân số. Tỷ lệ sinh gần nhất của Hàn Quốc – tức số lượng con bình quân mà một người phụ nữ sinh trong suốt cuộc đời – là 1,17 trong khi tỷ lệ của Đài Loan là 1,12, cả hai đều thấp hơn mức 1,46 của Nhật Bản. Thành phần dân số trong độ tuổi làm việc – tức số lượng người từ 15-64 tuổi – bắt đầu giảm xuống tại Đài Loan vào năm 2016, còn con số tương ứng tại Hàn Quốc được trông đợi sẽ bắt đầu giảm trong năm nay. Điều không tránh khỏi là một lực lượng lao động nhỏ hơn đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế chậm hơn. Tốc độ tăng trưởng năm 2016 của Hàn Quốc là 2,8% và của Đài Loan là 1,5%. Tốc độ tăng trưởng của cả hai được trông đợi sẽ duy trì ở mức trên 2% trong một thời gian nữa. Tốc độ tăng trưởng trên 3% không còn là mục tiêu dễ dàng cho cả hai.


Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, quốc gia sẽ bất tính ổn định về xã hội và chính trị. Các chính trị gia có xu hướng sử dụng các sách lược mang tính dân túy, cụ thể như tăng trợ cấp thất nghiệp và chăm sóc người già, để xoa dịu dân chúng. Một rủi ro lớn tại thời điểm này là nếu chính phủ tiếp tục cố gắng xoa dịu dân chúng bằng chính sách chi tiêu tài khóa hào phóng trong bối cảnh tăng trưởng chậm, hệ quả cuối cùng sẽ là sự gia tăng thâm hụt tài khóa và về dài hạn sẽ khiến lãi suất tăng lên. Lãi suất và thuế cao đến lượt nó sẽ khiến doanh nghiệp không mặn mà đầu tư, từ đó khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại. Trong quá khứ, diễn biến leo thang tiêu cực như vậy đã từng làm khổ Mỹ cùng các nước Châu Âu.


Đổi mới – phương cách duy nhất


Nếu một nước thu nhập cao bị kìm hãm bởi chi phí cao muốn duy trì tăng trưởng, một cách nhanh chóng để đạt mục đích là nhập khẩu lao động nước ngoài làm nguồn cung lao động giá rẻ. Nhưng nếu lao động nước ngoài tăng trưởng quá mức về số lượng, công dân nước sở tại sẽ coi đó là mối đe dọa cho việc làm của mình. Đã chứng kiến người dân Mỹ và Châu Âu ủng hộ các chính trị gia kêu gọi trục xuất người nhập cư và lao động nước ngoài, cả người Đài Loan và người Hàn Quốc đều sẽ cảm thấy cẩn trọng với việc cho phép quá nhiều công nhân nước ngoài vào nước mình.

 

Cuối cùng thì, con đường chắc chắn nhất để tăng trường là hiện thực hóa sự tăng trưởng sản xuất thông qua đổi mới. Một yếu tố quan trọng khác là Hàn Quốc và Đài Loan không còn có thể tìm kiếm một ví dụ ở những nước thu nhập cao – điều mà họ từng có thể làm khi thu nhập của họ vẫn ở mức trung bình. Thay vào đó, giờ đây họ phải tự tạo mô hình cho chính mình.

 

Khi tôi nhớ lại “20 năm mất mát” của Nhật Bản, tức thời kỳ đình trệ kéo dài mà nước này phải đã trải qua, tôi nghĩ rằng Hàn Quốc và Đài Loan đều đang bước vào giai đoạn ở đó họ không thể đạt được tăng trưởng ổn định chỉ đơn giản bằng cách thay đổi lãnh đạo và cải tiến chính sách.

 

Trên tất cả, các chính trị gia của họ phải ý thức được rằng họ giờ đây đã là những nền kinh tế thu nhập cao. Trừ khi họ đoạn tuyệt được với tâm lý của một nền kinh tế thu nhập trung bình, họ sẽ không thể đối phó với bẫy thu nhập cao – dù cho lãnh đạo của họ là ai.