Kinh tế Đông Á

Cũng là nạn nhân của các đòn trừng phạt kinh tế của Trung Quốc, Hàn Quốc có thể học gì từ trường hợp của Đài Loan? (Phần 1)

Chủ nhật, 14-05-2017 18:07 907

Đài Loan và Hàn Quốc có điểm chung nổi bật là có thặng dư thương mại với Trung Quốc lớn hơn bất cứ nước nào khác trên thế giới. Theo số liệu của Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc, năm 2015 Trung Quốc chịu mức thâm hụt thương mại trị giá 98 tỷ USD với Đài Loan và 73 tỷ USD với Hàn Quốc. Bắc Kinh sẵn sàng chịu thâm hụt thương mại lớn và kéo dài với hai nền kinh tế phát triển này để tăng cường vai trò của mình trong các mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu và để hai nước láng giềng này dấn ngày càng sâu hơn vào trật tự kinh tế Đông Á với Trung Quốc là trung tâm.

 

Nguồn: "Dealing with Chinese sanctions South Korea and Taiwan", The Diplomat, 12/05/2017

 

Biên dịch: Dương Huy Quang

 

Sau khi Hàn Quốc đồng ý cho Mỹ đặt hệ thống phòng thủ tên lửa Phòng thủ khu vực Tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) trên lãnh thổ của mình vào tháng 7 năm ngoái, đã xuất hiện các báo cáo cho biết Trung Quốc đã bắt đầu trừng phạt Hàn Quốc ngõ hầu buộc nước này đảo ngược quyết định của mình. Các quan chức Trung Quốc đến nay đã bác bỏ tính xác thực của các báo cáo này . Tuy nhiên, bằng chứng từ việc Trung Quốc hạn chế nhập khẩu văn hóa nhạc pop của Hàn Quốc, ra lệnh cho các đại lý du lịch Trung Quốc ngừng bán tour đến Hàn Quốc, ngăn cản việc nhập khẩu mỹ phẩm Hàn Quốc đồng thời áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế không chính thức khác lên Hàn Quốc đã khiến Mỹ và Hàn Quốc phải lên tiếng với Trung Quốc vì những biện pháp mang tính cưỡng ép của nước này. Tuy vậy, cho đến nay Bắc Kinh vẫn chưa cho thấy dấu hiệu nào là sẽ dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt, điều này khiến nhiều người cả trong và ngoài Hàn Quốc tự hỏi nước này còn phải chịu đựng áp lực của Bắc Kinh thêm bao nhiêu lâu nữa. Việc xem xét kinh nghiệm tương tự của Đài Loan với tư cách một nạn nhân của các chiến thuật cưỡng ép của Trung Quốc cho thấy các biện pháp trừng phạt có thể sớm được dỡ bỏ sau khi tân Tổng thống Hàn Quốc đã yên vị trong nhiệm sở, nhưng cũng có thể tiếp tục tồn tại dai dẳng dưới hình thức này hay hình thức khác trong nhiều năm, tùy thuộc vào định hướng chiến lược của chính quyền mới tại Hàn Quốc.


Hy vọng và sợ hãi của Trung Quốc


Quan hệ của Trung Quốc với Đài Loan và Hàn Quốc có chung một số điểm quan trọng. Bắc Kinh từ lâu đã cố gắng kéo cả hai nước này sát gần hơn vào quỹ đạo của mình và đã dựa nhiều vào thương mại để thực hiện điều này. Đài Loan và Hàn Quốc có điểm chung nổi bật là có thặng dư thương mại với Trung Quốc lớn hơn bất cứ nước nào khác trên thế giới. Theo số liệu của Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc, năm 2015 Trung Quốc chịu mức thâm hụt thương mại trị giá 98 tỷ USD với Đài Loan và 73 tỷ USD với Hàn Quốc. Bắc Kinh – vốn thường bị cáo buộc là sở hữu đức tin kiên định ở chủ nghĩa trọng thương, cho đến nay đã tỏ ra sẵn sàng chịu thâm hụt thương mại lớn và kéo dài với hai nền kinh tế phát triển này để tăng cường vai trò của mình trong các mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu và để hai nước láng giềng này dấn ngày càng sâu hơn vào trật tự kinh tế Đông Á với Trung Quốc là trung tâm.


Trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã ngày càng đẩy mạnh chiến lược hội nhập kinh tế của mình. Họ đã ký kết một số thỏa thuận thương mại với Đài Loan, trong đó có Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế ngang eo biển (ECFA) đồng thời ký kết hiệp định thương mại tự do song phương lớn nhất từ trước đến nay với Hàn Quốc.


Trong khi giới lãnh đạo Trung Quốc nhận thấy cơ hội lớn từ việc làm ăn kinh tế với Đài LoanHàn Quốc, họ cũng nhận thức rõ những thách thức nghiêm trọng về an ninh xung quanh mỗi nước.


Giới tinh hoa chính trị của Trung Quốc lo sợ rằng độc lập chính thức cho Đài Loan, hoặc ít nghiêm trọng hơn là việc kéo dài sự tách biệt của hòn đảo này với Trung Quốc đại lục, cũng có thể gây ra tai họa cho Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP). Chủ tịch Tập Cận Bình đã tuyên bố rõ mối quan ngại của giới lãnh đạo Trung Quốc về tương lai chính trị của Đài Loan.

 


Chưa đầy 1 năm sau khi nhậm chức, ông Tập đã nói với cựu Phó Tổng thống Cộng hòa Trung Hoa (tên chính thức của Đài Loan) Vincent Siew rằng cuộc tranh chấp dai dẳng về quy chế chính trị của Đài Loan không thể cứ mãi truyền “từ thế hệ này đến thế hệ khác”, hàm ý rằng Bắc Kinh không sẵn sàng đợi chờ trong thời gian không xác định để Đài Loan lựa chọn thống nhất với đại lục. Ông Tập cũng chỉ rõ rằng việc giải quyết vấn đề Đài Loan liên quan mật thiết đến Giấc mơ Trung Hoa, một sự nghiệp chính trị mang tính chất khái niệm-kiêm-chính trị được quảng bá mạnh mẽ mà bản thân ông Tập đã đưa ra vào tháng 11/2012 và hàm chứa nội dung là nguyện vọng chung của nhân dân Trung Quốc về “cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa”. Và mới tháng 11 năm ngoái, có tin nói ông Tập tâm sự với ông Hung Hsiu-chu, Chủ tịch Quốc dân đảng (Kuomintang) Đài Loan và có quan điểm thân thiện với Trung Quốc rằng ông tin rằng công chúng Trung Quốc sẽ lật đổ Đảng Cộng sản Trung Quốc nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc xử lý sai trong vấn đề độc lập của Đài Loan.


Còn với Hàn Quốc, Bắc Kinh có hai mối quan tâm chính về an ninh: duy trì hòa bình và ổn định trên bán đảo Triều Tiên, và ngăn chặn Hàn Quốc gắn bó sâu hơn vào hệ thống đồng minh của Mỹ. Các quan chức Trung Quốc thường công khai nói về mối quan tâm thứ nhất. Trái lại, họ có xu hướng gián tiếp bắn đi tín hiệu phản đối một mối quan hệ liên minh bền chặt hơn giữa Mỹ và Hàn Quốc bằng cách chỉ trích các liên minh quân sự nói chung và đôi khi là trừng phạt Seoul khi sự hợp tác quân sự của Seoul có vẻ đi chệch khỏi những quy chuẩn gần đây.


Giới lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc cho đến nay đã duy trì truyền thống chính sách ngoại giao của Trung Quốc là lên tiếng phản đối các liên minh quân sự mà không trực tiếp chỉ trích liên minh Mỹ-Hàn. Tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 4 của Hội nghị về các Biện pháp xây dựng tương tác và lòng tin tại Châu Á diễn ra tại Thượng Hải tháng 5/2014, Tập Cận Bình đã có bài phát biểu với tiêu đề “Ý tưởng an ninh mới tại Châu Á vì sự tiến bộ mới trong Hợp tác an ninh”. Trong bài phát biểu của mình, ông Tập lập luận “tăng cường và gia cố một liên minh quân sự nhắm đến một bên thứ ba không có lợi cho duy trì an ninh chung”. Ông Tập tiếp tục đi đến kết luận rằng “người Châu Á phải là người xử lý các công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Những tuyên bố như vậy khi đó được nhiều người nhìn nhận là sự lên án kín đáo hệ thống an ninh do Mỹ dẫn đầu vốn đã tồn tại phổ biến tại Châu Á trong hơn một nửa thế kỷ.


Gần đây hơn, trong bối cảnh căng thẳng đang gia tăng trên bán đảo Triều Tiên, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân đã kêu gọi một cách tiếp cận không có liên minh cho an ninh khu vực. Phát biểu tại Diễn đàn Hương Sơn lần thứ 7 – một diễn đàn đối thoại do Trung Quốc dẫn đầu về các vấn đề an ninh và quốc phòng tại Châu Á, ông Lưu Chấn Dân nói “tất cả các nước nên từ bỏ tâm lý thời chiến tranh lạnh và hợp tác để theo đuổi một con đường đối thoại và đối tác mới thay vì đối đầu, liên minh và thù địch”.


Tại những thời điểm khác nhau, Bắc Kinh đã thể hiện sự phản đối của mình đối với các cuộc tập trận chung giữa Mỹ và Hàn Quốc. Tuy nhiên, sự quan ngại của Trung Quốc về vai trò của Hàn Quốc trong hệ thống liên minh của Mỹ đã trở nên rõ ràng hơn trong hai năm trở lại đây.


Kể từ khi Trương Quang Đức, nhân vật cao cấp thứ 3 trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, tuyên bố quan hệ Trung-Hàn đang ở mức cao chưa từng có vào tháng 6/2015, Hàn Quốc đã nhanh chóng hàn gắn quan hệ với Nhật Bản và nâng cao hợp tác an ninh tay ba Hàn-Mỹ-Nhật trước sự khó chịu của Trung Quốc. Tháng 12/2015, Seoul và Tokyo đạt được một thỏa thuận mà mục đích là giải quyết cuộc tranh chấp kéo dài nhiều thập niên về vấn đề phụ nữ Hàn Quốc bị cưỡng ép làm nô lệ tình dục cho quân đội Nhật trong Thế chiến thứ hai. Trước đó, cuộc tranh chấp về vấn đề nô lệ tình dục từ lâu đã cản trở nỗ lực của cả hai nước nhằm cải thiện hợp tác an ninh. Với việc tranh chấp đã được để lại sau lưng, Seoul và Tokyo năm ngoái đã tiến tới một thỏa thuận chia sẻ thông tin tình báo mà hai nước lúc đầu đã cố gắng ký kết vào năm 2012 nhưng bị đình trệ do phản đối của dư luận tại Hàn Quốc. Cũng trong năm 2016, Hàn Quốc cùng Mỹ và Nhật Bản tham gia cuộc diễn tập theo dõi tên lửa đạn đạo đầu tiên của ba nước. Tháng 4 vừa rồi ba nước cũng tổ chức một cuộc diễn tập tương tự. Trong khi đó, Trung Quốc đã công khai chỉ trích gần như mọi bước đi mà Hàn Quốc thực hiện trong 2 năm trở lại đây nhằm tăng cường hợp tác an ninh với Mỹ và Nhật Bản.

 

Đọc tiếp Phần 2