Kinh tế Đông Á

Cũng là nạn nhân của các đòn trừng phạt kinh tế của Trung Quốc, Hàn Quốc có thể học gì từ trường hợp của Đài Loan? (Phần 2-cuối)

Chủ nhật, 14-05-2017 18:22 814

Trên thực tế, Trung Quốc trong nhiều thập niên đã sở hữu ưu thế kinh tế đáng kể so với các nước láng giềng, nhưng nước này chưa thể hiện mong muốn phá nát quan hệ kinh tế của mình với Đài Loan và Hàn Quốc. Hai nước này có thể tự trấn an ở việc Bắc Kinh có lịch sử kiềm chế và niềm tin kiên định ở chiến lược hội nhập kinh tế của mình. Tuy nhiên, hai nước cũng cần hiểu rõ một điều là Bắc Kinh sẵn sàng duy trì các biện pháp trừng phạt trong nhiều năm nếu họ không có được điều mình muốn.

 

Nguồn: "Dealing with Chinese sanctions: South Korea and Taiwan", The Diplomat, 12/05/2017

 

Biên dịch: Dương Huy Quang

 

Những bài học từ Đài Loan


Những năm qua, Trung Quốc đã sử dụng nhiều phương cách khác nhau để cố gắng cưỡng ép Đài Loan không tuyên bố độc lập và làm sâu sắc hơn quan hệ với đại lục. Năm 1999, sau khi cựu Tổng thống Cộng hòa Trung Hoa Lý Đăng Huy gọi quan hệ giữa hai bờ eo biển là “mối quan hệ đặc biệt giữa hai nhà nước”, Trung Quốc đã yêu sách việc chấp nhận Nguyên tắc Một Trung Quốc – nguyên tắc theo đó cả đại lục và Đài Loan đều thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – là điều kiện tiên quyết để quan hệ giữa hai bờ eo biển được êm đẹp.


Trần Thủy Biển, người kế nhiệm Lý Đăng Huy và là tổng thống đầu tiên thuộc Đảng Dân tiến ủng hộ độc lập, đã từ chối chấp nhận Nguyên tắc Một Trung Quốc trong suốt 8 năm tại nhiệm. Vì lý do này, Bắc Kinh đã tăng cường nỗ lực lôi kéo các đồng minh ngoại giao của Đài Bắc và ngăn cản Đài Loan các tổ chức quốc tế. Cùng lúc với việc gây sức ép về ngoại giao lên chính phủ Trần Thủy Biển, Trung Quốc còn tăng cường thúc đẩy quan hệ kinh tế ngang eo biển trước sự khó chịu của ông Trần cùng những người có quan điểm tương tự là muốn ngừng hoặc ít nhất là làm chậm lại sự lệ thuộc ngày càng gia tăng vào đại lục về mặt kinh tế.


Tháng 3/2008, chính trị gia thuộc Quốc dân đảng Mã Anh Cửu được bầu làm tổng thống Đài Loan. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống của mình, ông Mã đã hứa sẽ làm việc để cải thiện quan hệ hai bờ eo biển và làm sâu sắc thêm sự gắn kết với Bắc Kinh. Ông Mã cùng đảng của mình đã khéo léo tránh được vấn đề một Trung Quốc bằng cách áp dụng “Đồng thuận 1992” – hay “một Trung Quốc, nhiều cách kiến giải” – làm cơ sở cho việc tái gắn kết với đại lục. Các quan chức Quốc dân đảng đã phối hợp với CCP để tạo ra khuôn khổ mới này cho quan hệ ngang eo biển trong thời kỳ ông Trần làm tổng thống, bởi ý nghĩa của Nguyên tắc Một Trung Quốc theo đó cả đại lục và Đài Loan đều thuộc về Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ là ý tưởng chính trị không có cửa tồn tại tại hòn đảo này.

 

Việc ông Mã Anh Cửu sẵn lòng dịch chuyển định hướng chiến lược của Đài Loan về phía đại lục có vai trò quyết định trong việc Bắc Kinh dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt. Sau khi Mã Anh Cửu được bầu, Trung Quốc ngay lập tức dừng hành vi quấy rói các đồng minh ngoại giao của Đài Loan và cho phép Hiệp hội Quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan – một tổ chức phi chính phủ được Bắc Kinh ủy quyền tiến hành các công việc thường nhật với Đài Bắc – được tái kết nối với cơ quan tương nhiệm phía Đài Loan. Thêm nữa, khi ông Mã tiến tới thực hiện những lời hứa lúc tranh cử là tăng cường quan hệ với đại lục, Trung Quốc đã cho phép Đài Loan có sự tự do hành động mỗi lúc một lớn hơn trong các mối quan hệ quốc tế. Đơn cử, sau khi Mã Anh Cửu đắc cử, mỗi năm Bắc Kinh đều cho phép Đài Loan tham dự Đại hội đồng Y tế thế giới thường niên của Tổ chức Y tế thế giới (WTO) với tư cách quan sát viên. Tương tự, nước này cũng cho phép Đài Loan tham gia Đại hội đồng Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế tổ chức 3 năm một lần vào năm 2013. Và, sau khi ký kết ECFA, giới lãnh đạo Trung Quốc cũng làm ngơ khi Đài Loan ký các hiệp định thương mại tự do với – hai nước không có không quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Bắc.

 

Tuy nhiên, những điều này đã thay đổi vào năm 2016, khi Đảng Dân tiến (DPP) lần đầu tiên giành được quyền kiểm soát cả nhánh hành pháp và lập pháp trong chính quyền Đài Loan.

 

Kể từ sau chiến thắng vang dội của DPP ngày 16/1/2016, Trung Quốc đã quay trở lại chiến thuật cưỡng ép cũ với hòn đảo láng giềng. Tháng 3 năm ngoái, Bắc Kinh thiết lập quan hệ ngoại giao với Gambia – nước đã cắt đứt quan hệ với Đài Loan năm 2013 – và sau đó thuyết phục San Tome và Principe, 1 trong 3 đồng minh Châu Phi còn lại của Đài Loan, chuyển sự công nhận (về ngoại giao từ Đài Bắc) sang Bắc Kinh. Trung Quốc cũng ngăn cản các quan chức Đài Loan tham dự Đại hội đồng Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế năm ngoái.

 

Ngoài các chiến thuật quen thuộc, Bắc Kinh dường như đã dùng đến các biện pháp trừng phạt kinh tế chống lại Đài Loan. Báo cáo cho biết giới chức du lịch đại lục đã ra lệnh cho các đại lý du lịch trong nước hạn chế bán các gói tour cho công dân Trung Quốc trong 31 ngày trước khi diễn ra cuộc tổng tuyển cử năm 2016 của hòn đảo này. Tuy nhiên, phải đến tháng 5 năm ngoái, khi tân Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn nhậm chức, thì Đài Loan mới nhận thấy sự sụt giảm sâu về lượng khách đại lục. Theo Cục Du lịch Đài Loan, lượng khách đại lục đến nước này trong năm 2016 đã giảm 16% (khoảng 700.000 người) so với năm 2015.

 

Giống như trước đây, Trung Quốc đã tuyên bố điều kiện tiên quyết cho quan hệ ngang eo biển: chấp nhận Đồng thuận 1992 và “ý nghĩa cốt lõi” của nó là cả hai bên bờ Eo biển Đài Loan đều thuộc một nước Trung Hoa. Trong diễn văn nhậm chức, bà Thái Anh Văn – giống như người tiền nhiệm – đã cố gắng tránh vấn đề một Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh không hài lòng và gọi bài diễn văn của bà là “đáp án chưa đầy đủ”.

 

Xét cho cùng, quyết định trừng phạt Đài Bắc và Seoul của Trung Quốc xuất phát từ hai nguyên nhân quan trọng như nhau là quan ngại của Bắc Kinh về mối quan hệ rộng lớn hơn của họ với chính phủ mỗi nước này và những tác động có thể có của các vấn đề cụ thể là “Đồng thuận 1992” hay THAAD đối với sự răn đe chiến lược của Trung Quốc.

 

Nguyên tắc Một Trung Quốc đã trở thành thuốc thử cho chính quyền Đài Loan chỉ sau khi quan hệ ngang eo biển xấu đi nhiều vào giữa và cuối thập niên 1990. Bắc Kinh sẵn sàng hợp tác với Quốc dân đảng để tạo lập một khuôn khổ mới cho Nguyên tắc Một Trung Quốc ngõ hầu cải thiện quan hệ giữa hai bờ eo biển và thúc đẩy chiến lược hội nhập kinh tế của mình với một chính quyền Đài Loan có thái độ tiếp thu. Nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc có lẽ thấy họ không có được nhiều lợi ích từ bà Thái Anh Văn bởi bà này cùng đảng của mình vẫn quyết tâm giảm sự lệ thuộc của Đài Loan vào Trung Quốc cũng như duy trì lựa chọn độc lập chính thức cho đất nước mình. Do đó, thay vì áp dụng cách thức tiếp cận mềm dẻo với bà Thái và có lẽ là định ra một khuôn khổ mới cho quan hệ ngang eo biển, có khả năng là Bắc Kinh sẽ duy trì các biện pháp trừng phạt trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ của bà Thái với hy vọng có thể thuyết phục cử tri Đài Loan rằng tương lai của Đài Loan với tư cách một quốc gia độc lập là không hề bền vững.

 

 

Hàn Quốc có thể đối mặt với số phận tương tự, tùy thuộc vào mức độ sẵn sàng mà tân tổng thống nước này thể hiện để làm yên lòng Bắc Kinh về những vấn đề an ninh khu vực.

 

Đã có nhiều tranh luận về mức độ đe dọa mà hệ thống THAAD tại Hàn Quốc có thể gây ra cho khả năng răn đe hạt nhân của Trung Quốc. Dù vậy, điều rõ ràng là Hàn Quốc đã vượt qua lằn ranh đỏ của Trung Quốc qua việc đồng ý để Hoa Kỳ triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa trên lãnh thổ của mình. Bắc Kinh trong nhiều năm đã cảnh báo Seoul không được chấp nhận hệ thống này.

 

Quyết định chấp nhận THAAD của chính phủ Hàn Quốc bất chấp phản đối mạnh mẽ của Trung Quốc thể hiện cho thất bại nghiêm trọng của chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Nó chứng minh rằng nhiều năm gắn kết sâu sắc về kinhtees với Hàn Quốc chỉ đem lại cho Trung Quốc chút ít ảnh hưởng trong các vấn đề về an ninh. Và không phải là Trung Quốc không hiểu tiện ích của hệ thống phòng thủ tên lửa đối với hợp tác phòng thủ khu vực giữa Hàn Quốc, Mỹ và Nhật Bản.


Giống như các biện pháp trừng phạt của Trung Quốc đối với Đài Loan, các biện pháp trừng phạt của nước này lên Hàn Quốc cũng nhằm mục đích tạo ra một sự dịch chuyển về định hướng chiến lược của nước bị nhắm đến.

 

Kinh nghiệm tương tự của Đài Loan với các biện pháp trừng phạt của Trung Quốc gợi ý rằng Bắc Kinh có thể cho thấy một mức độ mềm dẻo nhất định về vấn đề THAAD chừng nào chính phủ mới của Hàn Quốc thực hiện sự dịch chuyển chiến lược mà Trung Quốc mong muốn.


Bắc Kinh gần như chắc chắn sẽ lập tức dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt đối với Hàn Quốc nếu chính phủ mới của Hàn Quốc dỡ bỏ THAAD. Tuy nhiên, động thái như vậy chưa chắc đã phải là điều kiện cần để dỡ bỏ trừng phạt.

 

Điều mà Trung Quốc dường như muốn từ Hàn Quốc tại thời điểm này là Hàn Quốc phải giảm bớt quan hệ an ninh đang ngày càng phát triển với Washington và Tokyo đồng thời thể hiện sự coi trọng lớn hơn đối với vai trò của Bắc Kinh trong việc giải quyết vấn đề Bắc Triều Tiên. Đến nay, Seoul và Washington đã bác bỏ lời kêu gọi của Bắc Kinh về việc tham gia hội đàm với Bắc Triều Tiên mà không có bất cứ điều kiện tiên quyết nào. Hai nước đồng minh cũng đã khước từ đề xuất gần đây của Trung Quốc về việc họ sẽ mặc cả với Bắc Triều Tiên về việc đình chỉ các cuộc tập trận chung hàng năm để đổi lại việc Bắc Triều Tiên đồng ý đình chỉ các chương trình hạt nhân và tên lửa.

 

Rõ ràng là có những giới hạn cho mức độ mà Seoul có thể/sẽ chấp nhận để làm yên lòng người láng giềng khổng lồ của mình về các vấn đề an ninh. Nhưng nếu chính quyền mới của Hàn Quốc có thể tìm ra một cách thức để xoa dịu nỗi lo sợ của Bắc Kinh rằng ảnh hưởng của họ với Seoul đang thoái trào một cách không thể vãn hồi, có thể là Trung Quốc sẽ dỡ bỏ ít nhất là một vài trong số những biện pháp trừng phạt ngay cả khi THAAD vẫn tồn tại.

 

Cơ hội để Bắc Kinh và Seoul hàn gắn quan hệ và chấm dứt các đòn trừng phạt của Trung Quốc là có bởi lợi ích của hai bên là không mâu thuẫn nhau – khác với trường hợp quan hệ Trung-Đài trong đó mục tiêu của giới lãnh đạo Trung Quốc là thống nhất hai bờ Eo biển Đài Loan và mục tiêu của chính quyền Thái Anh Văn là để ngỏ khả năng độc lập chính thức cho Đài Loan.

 

Bất chấp việc Trung Quốc sẵn sàng trừng phạt Đài Loan và Hàn Quốc, nước này vẫn chưa mất niềm tin ở chiến lược hội nhập kinh tế của mình. Bắc Kinh đã giữ các đòn trừng phạt kinh tế của mình với Đài Loan ở mức độ tương đối hạn chế - nạn nhân chính của các biện pháp trừng phạt này chỉ giới hạn ở ngành du lịch và lữ hành của Đài Loan. Còn những đòn trừng phạt của Trung Quốc đối với Hàn Quốc – mặc dù có mức độ đáng kể hơn so với Đài Loan – thì cũng chưa nghiệt ngã hết mức có thể. Trên thực tế, Trung Quốc trong nhiều thập niên đã sở hữu ưu thế kinh tế đáng kể so với các nước láng giềng, nhưng nước này chưa thể hiện mong muốn phá nát quan hệ kinh tế của mình với Đài Loan và Hàn Quốc. Hai nước này có thể tự trấn an ở việc Bắc Kinh có lịch sử kiềm chế và niềm tin kiên định ở chiến lược hội nhập kinh tế của mình. Tuy nhiên, hai nước cũng cần hiểu rõ một điều là Bắc Kinh sẵn sàng duy trì các biện pháp trừng phạt trong nhiều năm nếu họ không có được điều mình muốn.

 

(Đọc Phần 1)