Kinh tế Đông Á

Hàn Quốc đang bên bờ vực của một thảm họa kinh tế?

Thứ sáu, 30-12-2016 22:27 5033

Sự phụ thuộc quá mức của Hàn Quốc vào xuất khẩu chính là “gót chân A-sin” về kinh tế của nước này. Ngoài ra còn những quả bom nổ chậm như nợ doanh nghiệp, nợ hộ gia đình, văn hóa doanh nghiệp cản trở sáng tạo và đổi mới công nghệ. 

 

Nguồn: Justin Fendos - "South Korea is poised for economic disaster" - The Diplomat, 26/12/2016

 

Biên dịch: Dương Huy Quang


Khi năm 2016 sắp khép lại và chúng ta nhìn lại những gì đã đạt được trong năm cũ, thì vẫn cần đặc biệt lưu tâm đến nền kinh tế Hàn Quốc. Đương nhiên, vụ bê bối của Tổng thống Park Geul Hye đang là đề tài nóng trên mọi phương tiện thông tin đại chúng; nhưng có một điều thậm chí còn tệ hơn đang rình rập: sự trượt dốc về kinh tế chưa từng có. Những bê bối này đương nhiên là có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ giá hối đoái, giá cổ phiếu và khả năng điều hành của chính phủ, nhưng đó chưa phải là vấn đề thực sự. Vấn đề thực sự nằm ở những nền tảng căn bản của kinh tế Hàn Quốc.


Hãy cùng bắt đầu với một phân tích đơn giản về những yếu tố cấu thành nền kinh tế Hàn Quốc. Năm 2015, khoảng 46% GDP của nước này là do xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ đem lại. Xin hãy nhìn kỹ và nhớ con số này, bởi nó có nghĩa là khoảng một nửa giá trị nền kinh tế Hàn Quốc là dựa vào xuất khẩu. Dù bạn có tin hay không, thì sự thực là con số này đã là thấp hơn tỷ lệ lúc đỉnh điểm là 56% vào nă, 2012. Để so sánh, các nước như Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc chỉ có tỷ lệ xuất khẩu trên GDP ở các mức tương ứng 13%, 18% và 22%. Chưa kể, ba nước này đều có mức độ tiêu dùng nội địa lớn để cân đối với xuất khẩu.


Vấn đề của việc lệ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu là sự dễ bị tác động của sự cạnh tranh trên toàn cầu. Mặc dù các thị trường trong nước có thể được bảo vệ theo nhiều cách, thị phần ở nước ngoài dễ bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi về thị hiếu, đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện hay những chiêu trò làm nhái sản phẩm và bán với giá thấp hơn. Thông thường, những thể loại sản phẩm duy nhất có thể trường tồn được tại thị trường nước ngoài là những sản phẩm đặc thù mang tính khu vực như nghệ thuật Italia, cà phê chồn hay những loại hình dịch vụ như ngân hàng Thụy Sỹ; những sản phẩm, dịch vụ này đều rất khó để mô phỏng tại một nước khác. Điều không may là gần như tất cả sản phẩm xuất khẩu của Hàn Quốc đều không thuộc những loại hình này.

 

Xuất khẩu gặp khó sẽ làm kinh tế Hàn Quốc trở nên mong manh. Ảnh: InternetXuất khẩu gặp khó sẽ làm kinh tế Hàn Quốc trở nên mong manh. Ảnh: Internet


Mặt hàng xuất khẩu nổi bật nhất của Hàn Quốc trong hai thập niên vừa qua là đồ điện tử, xe hơi và thuyền. Giữa những năm 2000, Hàn Quốc là một trong những nước đứng đầu (nếu không muốn nói là quán quân) về mỗi trong số các mặt hàng nói trên. Tuy nhiên, những năm gần đây, sự nổi trội của Hàn Quốc đã suy giảm đáng kể trên mọi lĩnh vực mà nguyên nhân chủ yếu là sự nổi lên của các công ty Trung Quốc – những đối thủ này đã bắt kịp về trình độ công nghệ và giờ đây đã có khả năng cung cấp các sản phẩm có thể cạnh tranh và với mức giá thấp hơn tại ngày càng nhiều thị trường. Ảnh hưởng của tình trạng này có thể thấy rõ nhất trong ngành thương mại hàng hải; các nghiên cứu do nhóm nghiên cứu của chúng tôi tiến hành đã ghi nhận sự nổi lên trên phạm vi toàn cầu của các hải cảng cùng các công ty đóng tàu của Trung Quốc mà hệ quả kéo theo là sự tái phân phối đáng kể về thương mại hàng hải theo hướng có lợi cho cơ sở hạ tầng của Trung Quốc.


Một trong những khía cạnh quan trọng nhất thường bị bỏ qua của hàng xuất khẩu Hàn Quốc là sự thiếu đa dạng nói chung của chúng. Khoảng 48% hàng xuất khẩu của Hàn Quốc là hàng điện tử cùng các cấu kiện liên quan trong khi 31% là hàng hóa vận tải (xe hơi, thuyền, và linh kiện liên quan. Một sự dịch chuyển làm thay đổi cuộc chơi xảy ra tại sân chơi của bất cứ dòng sản phẩm nào cũng sẽ dẫn tới sự đi xuống chậm rãi nhưng liên tục của toàn bộ nền kinh tế Hàn Quốc. Thậm chí chỉ cần xuất khẩu giảm 10% cũng khiến quy mô kinh tế Hàn Quốc giảm xuống 5% và khiến nước này mất cả chục nghìn việc làm vốn phụ thuộc vào xuất khẩu; điều này sẽ khiến tỷ lệ người thiếu việc làm (tỷ lệ này bao gồm cả những người thất nghiệp và những người làm việc bán thời gian và muốn tìm công việc toàn thời gian) (hiện ở mức 14%) và tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (hiện ở mức 9%) sẽ còn nghiêm trọng hơn.


Trong bối cảnh các công ty Trung Quốc như Huawei và Oppo bám đuổi Samsung một cách quyết liệt, một sự thoái trào tiềm tàng hoàn toàn có khả năng trở thành hiện thực nếu xét tới thực tế là văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc không phải lúc nào cũng là môi trường tốt nhất cho sự phát triển của các ý tưởng và công nghệ thế hệ sau, trong khi đây lại là cách thức dễ dàng nhất (và đôi khi là duy nhất) để các công ty công nghệ duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Việc thiếu tư duy đi trước thể hiện đáng ngạc nhiên nhất ở lĩnh vực năng lượng sạch, nơi Hàn Quốc gần đây đã bị loại hoàn toàn khỏi những bước phát triển mới nhất cho dù nước này có tiếng là một cường quốc về công nghệ.

 

Một lĩnh vực đáng lo ngại nữa là nợ doanh nghiệp. Tổng nợ doanh nghiệp của Hàn Quốc hiện ở mức khoảng 171% GDP. Mặc dù tỷ lệ nợ cao như thế này không phải chỉ Hàn Quốc mới có (tỷ lệ nợ/GDP của Mỹ và Trung Quốc lần lượt là 304% và 169%), nước này dễ phải chịu những hệ quả tiêu cực hơn vì một số lý do. Thứ nhất là tình trạng tồn tại phổ biến của các “công ty xác sống” (zombie) – tức các công ty đã mất khả năng trả nợ trong thời gian ít nhất 3 năm liên tục. Theo ước tính, có khoảng ¼ dư nợ doanh nghiệp của Hàn Quốc nằm tại các công ty kiểu này và khả năng các công ty này trả được nợ là rất thấp. Con số này liên tục tăng lên qua từng năm mà tuyệt đại đa số chủ nợ lại là các nhà cho vay Hàn Quốc thuộc cả khu vực nhà nước lẫn tư nhân. Xét đến tình cảnh nhiều nhà cho vay trong nước trông cậy vào các món nợ này như vậy, tình trạng mất khả năng trả nợ hàng loạt có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Đến nay, đa số dư nợ có nguy cơ quá hạn đều được quay vòng bằng nợ mới hoặc được tái cơ cấu; tuy nhiên, hai cách này không thể kéo dài mãi.


Các tập đoàn lớn của Hàn Quốc cũng không xa lạ gì với nợ nần. Đơn cử, Samsung có khoản nợ trị giá khoảng 29 tỷ USD, tương đương 148% doanh thu hàng năm của tập đoàn. Lý do tại sao Samsung (hoặc bất cứ công ty nào khác) có thể vay mượn được nhiều như vậy là do (các nhà cho vay) kỳ vọng ở việc doanh thu tiếp tục được duy trì trong tương lai – điều này được phản ánh ở giá cổ phiếu và thường được gọi là “đòn bẩy”. Như đã đề cập trên đây, nếu các công ty Trung Quốc tiếp tục gặm dần gặm mòn những kỳ vọng này – cho dù chỉ với tốc độ khiêm tốn – thì quy mô nợ của Samsung so với doanh thu hàng năm của tập đoàn này sẽ tăng lên. Điều này có thể sẽ gây ra khó khăn trong việc đáp ứng khả năng trả nợ trong tương lai cũng như gây áp lực lên khả năng nghiên cứu, sản xuất và cạnh tranh của công ty.


Một câu hỏi ai cũng sẽ đặt ra lúc này là: Tại sao ngay từ đầu các công ty Hàn Quốc lại được phép vay nợ nhiều như vậy? Trong trường hợp Hàn Quốc, có một số yếu tố quan trọng cần đề cập. Thứ nhất là giai đoạn bùng nổ kinh tế cuối những năm 1990 và những năm 2000. Giai đoạn này tạo ra lượng vốn cực lớn tại Hàn Quốc, và số tiền này cần phải được đầu tư vào đâu đó. Để kích thích đầu tư trong nước, chính phủ Hàn Quốc đã nới lỏng các quy định về cho vay để các công ty Hàn Quốc có thể vay được nhiều tiền hơn bình thường. Sự nới lỏng này là một trong những nguyên nhân tạo ra nhiều công ty xác sống đến vậy; tình cảnh này giống cuộc khủng hoảng nợ xấu đã châm ngòi cho đợt suy thoái toàn cầu năm 2008 đến ngạc nhiên.


Như cá nhân tôi và nhiều chuyên gia khác đã đề cập trong những bài viết khác, một vấn đề chủ chốt với văn hóa doanh nghiệp hiện tại của Hàn Quốc là việc ra quyết định rất kém. Sự sụp đổ của Tập đoàn vận tải biển Hanjin minh họa rất rõ điều này, nó cho thấy cách mà những viễn kiến lạc quan đến mức thiếu thực tế của các nhà quản trị thiếu năng lực của tập đoàn này đã cho phép Hanjin vay mượn quá khả năng trả nợ của mình; Hanjin vì thế đã rơi vào cái bẫy nợ nần để giờ không thể thoát ra. Điều quan trọng cần nhấn mạnh cách mà các công ty khác cũng mắc vào cái bẫy này: nổi bật bật nhất là hãng hàng không Korean Airlines cũng đang trong tình cảnh khóc dở mếu dở với khoản nợ khó đòi trị giá khoảng 340 triệu USD tại Hanjin. Hệ quả này cho thấy tuần suất các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư vào các doanh nghiệp khác cao như thế nào. Nó đã tạo nên một mạng lưới những mối quan hệ, những sự phụ thuộc lẫn nhau mà nhân tố thúc đẩy là một chính sách kinh tế nội địa hướng tới việc giữ chặt nguồn vốn của Hàn Quốc ở lại quốc gia này.


Kẻ đắc lợi dễ nhận thấy từ các nguồn vốn cho vay doanh nghiệp trong suốt ba thập kỷ qua chính là thị trường bất động sản Hàn Quốc. Là đầu ra phổ biến cho dòng vốn tích lũy được trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng tốt, thị trường bất động sản Hàn Quốc đã chứng kiến việc xây dựng hàng trăm khu chung cư, resort và khách sạn hạng sang. Các công ty như Lotte, SKT và Hyundai – dù ngành nghề kinh doanh truyền thống không có gì liên quan đến bất động sản – cũng đầu tư tất tay vào các bất động sản mới, nhiều công trình trong số này còn được mang thương hiệu của tập đoàn. Làn sóng đầu tư này tiếp tục trong năm 2015 với tốc độ kỷ lục, bất chấp việc những năm gần đây đã có tình trạng dư thừa nguồn cung nhà ở nghiêm trọng với hàng chục nghìn căn hộ tồn kho. Điều này làm dấy lên lo ngại về viễn cảnh Hàn Quốc đối mặt với tình trạng bong bóng bất động sản không thể xem thường.

 

Cả nợ doanh nghiệp lẫn nợ hộ gia đình của Hàn Quốc đều ở ngưỡng nguy hiểm. Ảnh: InternetCả nợ doanh nghiệp lẫn nợ hộ gia đình của Hàn Quốc đều ở ngưỡng nguy hiểm. Ảnh: Internet


Cho vay trong những năm cuối thập niên 1990 và 2000 không chỉ giới hạn ở khu vực doanh nghiệp. Cho vay đối với khu vực khách hàng cá nhân cũng được nới lỏng đáng kể, thường là để khuyến khích người dân mua bất động sản. Trong thập kỷ vừa qua, người dân Hàn Quốc nói chung đã bị cuối vào một hiện tượng có thể được mô tả như là “cơn say vay mượn”. Đầu năm 2015, Hàn Quốc là một trong chỉ 7 nước được công ty tư vấn McKinsey đánh giá là có tình trạng nợ hộ gia đình không bền vững. Không may là những báo cáo này đã bị ngó lơ và nợ hộ gia đình của Hàn Quốc tiếp tục tăng vọt: từ mức 84% GDP vào tháng 1/2015 lên mứ 90% vào tháng 7 năm nay. Để so sánh, tỷ lệ tương ứng của Trung Quốc là 41% và của Nhật Bản là 66%.


Trong khi theo dõi những bê bối chính trị hiện nay, người ta có thể tưởng tượng năng lực yếu kém và tệ tham nhũng đã cấu kết với nhau để gây ra những nguy hại về kinh tế ở mức độ khủng khiếp như người ta đã và sẽ còn phải chứng kiến. Xâu chuỗi các sự kiện với nhau, một người quan sát thạo tin chỉ có thể chờ đón tương lai với tâm trạng lo âu khi mà dường như một dãy dài quân bài domino đã được dựng sẵn lên và chỉ còn chờ ngày nối đuôi nhau sụp đổ.


Justin Fendos là giáo sư tại Đại học Dongseo (Hàn Quốc) và phó giám đốc Trường Tan thuộc Đại học Fudan – Thượng Hải.