Kinh tế Đông Nam Á

Tại sao Indonesia sa lầy trong bẫy thu nhập trung bình?

Thứ năm, 15-12-2016 17:26 1279

Diện tích lớn, dân số đông, Indonesia có đủ tiềm năng để trở thành một cường quốc kinh tế trong khu vực. Dù đang mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình trong đó giáo dục, lao động và hạ tầng là những vấn đề cản trở tăng trưởng, cửa để Indonesia gia nhập nhóm các nước có thu nhập cao trong 50 năm tới là rất sáng.

 

Nguồn: Hal Hill, ANU, và Haryo Aswicahyono, "Is Indonesia trapped in the middle", East Asia Forum, 12/08/2015

 

Biên dịch: Lê Minh Tân

 

Sau khi thoát khỏi tình trạng thu nhập thấp và gia nhập hàng ngũ những nước có thu nhập trung bình, nhiều nước đang phát triển có nguy cơ đối mặt với “bẫy thu nhập trung bình”. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa tình trạng này là “hiện tượng các nền kinh tế cho đến một thời điểm nào đó có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng sau đấy mắc kẹt tại các ngưỡng thu nhập trung bình và không thể gia nhập hàng ngũ những nước có thu nhập cao”. Indonesia đang ở trong tình trạng như vậy.


Indonesia đã trở thành nước có thu nhập trung bình vào năm 2004. Tốc độ tăng trưởng của nước này – tuy cao hơn hầu hết các nước đang phát triển khác – vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế năng động nhất của khu vực Đông Á. Vậy tại sao Indonesia vẫn chưa phát triển nhanh hơn và tại sao tốc độ tăng trưởng trong kỷ nguyên dân chủ lại có vẻ chậm hơn tốc độ tăng trưởng dưới thời ông Soeharto? Làm thế nào để nước này đạt tới vị thế một nước có thu nhập cao trong tương lai có thể thấy trước?


Ít có nước nào lại trải qua những thay đổi sâu sắc về vận may kinh tế cùng sự cai trị về chính trị như Indonesia. Từ một “đất nước thất bại kinh niên về kinh tế” vào giữa những năm 1960, cần tới một cuộc chuyển biến lớn lao cùng 3 thập niên để Indonesia gia nhập hàng ngũ những nền kinh tế thần kỳ của Đông Á vào những năm 1990. Nhưng sau khi đã chen chân được vào câu lạc bộ các nước có thu nhập trung bình – khi mà sự phát triển kinh tế nhanh chóng và theo kiểu Đông Á dường như đã được đảm bảo – đất nước vạn đảo lại trải qua một cơn gián đoạn nữa: Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (AFC). Sự sụp đổ này đến cùng với – thực ra là dẫn đến – một cuộc khủng hoảng chính trị với sự cáo chung đột ngột của nền cai trị ròng rã 32 năm của Tổng thống Soeharto vào năm 1998. Nền kinh tế Indonesia lúc đó tưởng như đã rơi tự do.

 

Một góc thủ đô Jakarta. [i]Nguồn: Internet[/i]Một góc thủ đô Jakarta. Nguồn: Internet


Nhưng, cũng giống như thời điểm những năm 1960, những người dự đoán rằng thảm họa sẽ đến đã sai. Kinh tế Indonesia nhanh chóng phục hồi trong khi về mặt chính trị nước này cũng nhanh chóng nổi lên như nền dân chủ năng động nhất Đông Nam Á, trong đó chính sách phi tập trung hóa như một “tiếng nổ lớn” đã giúp phân cấp nhiều thẩm quyền về hành chính, tài chính và chính trị cho chính quyền địa phương. Đây là một trong những đợt tái thiết toàn diện và nhanh chóng nhất với các thể chế và trình tự chính trị của một quốc gia trong những giai đoạn gần đây mà cái giá phải trả chỉ là một giai đoạn mất mát xung lực kinh tế ngắn ngủi. Với thành tích năng động về kinh tế và chính trị này, khái niệm về bẫy thu nhập trung bình tại Indonesia thoạt nghe có vẻ không mấy liên quan. Nếu tốc độ tăng trưởng trong 15 năm trở lại đây được duy trì, Indonesia sẽ gia nhập hàng ngũ các nước thu nhập cao trong vòng nửa thế kỷ nữa.


Nhưng đồng thời, có một số thách thức chủ chốt – mặc dù không thể lượng hóa – sẽ ngáng trở tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ hơn của Indonesia. Công chúng Indonesia từ lâu đã lưỡng lự trong việc chấp nhận chủ nghĩa tự do và toàn cầu hóa. Về vấn đề này, chính sách của Indonesia như quả lắc dao động qua lại giữa các thái cực, từ sự hội nhập toàn cầu đầu những năm 1960 đến chế độ cởi mở cuối những năm 1960, sau đó đến giai đoạn chính phủ tăng cường can thiệp trong giai đoạn giá dầu bùng nổ vào thập niên 1970 và đợt cởi trói về quản lý nhà nước từ những năm 1980. Với các luồng quan điểm ủng hộ và phản đối cải cách đan xen, Indonesia đã duy trì được tình trạng cởi mở ở mức độ hợp lý kể từ đó đến nay.


Thế nhưng chủ nghĩa dân tộc về kinh tế của Indonesia đã gia tăng áp lực chủ nghĩa bảo hộ. Lập trường chính sách này, cùng với việc giá hàng hóa sụt giảm kể từ năm 2012, đã dẫn tới thành quả rất nhạt nhòa về nhập khẩu. Trong khi đó, Indonesia tiếp tục thể hiện dưới sức mình trong lĩnh vực kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu. Các chuỗi giá trị này chiếm gần một nửa kim ngạch thương mại giữa các nước ASEAN, nhưng Indonesia vẫn là một thành viên tương đối nhỏ.


Các nguyên nhân của việc thành quả chưa tương xứng với tiềm năng này đều rất rõ ràng và có thể được khắc phục thông qua can thiệp bằng chính sách. Việc tham gia những chuỗi giá trị này đòi hỏi một quốc gia phải có các thể chế thương mại và đầu tư rộng mở, cơ sở hạ tầng logistics với hiệu quả cao và các yếu tố đầu vào về lao động thật cạnh tranh. Xét ở ba khía cạnh chủ chốt này, Indonesia đang bị chậm chân.


Về giáo dục, Indonesia đã đạt được những thành quả ấn tượng kể từ thập niên 1970. Nước này hiện đã tiến rất gần việc xóa hoàn toàn mù chữ cho dân số trong độ tuổi đến trường trong khi chính phủ cam kết dành 20% tổng ngân sách cho lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên, Indonesia lại khá chậm chân khi xét tới tỷ lệ học sinh bỏ học sau khi bậc học cơ sở và khi xét theo những chỉ số về “chất lượng” có tính so sánh, ví dụ như các kỳ thi quốc tế. Một nghiên cứu năm 2013 do Samer Al-Samarrai và Pedro Cerdan-Infantes tiến hành cho thấy Indonesia đứng thứ 40 trên 45 nước tham gia kỳ đánh giá chất lượng về môn toán và khoa học quốc tế. Trong đợt đánh giá này, 72 học sinh Indonesia có kết quả ở mức thấp, chỉ 3% có mức điểm cao và không em này đạt kết quả xuất sắc. Đáng lo ngại hơn, những con số này vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện, trừ môn đọc.


Những thách thức lớn về giáo dục đại học sẽ trở nên cấp bách hơn khi Indonesia tiếp tục thăng tiến trong hàng ngũ các nước có thu nhập trung bình. Bậc học này đang tăng trưởng nhanh, nhưng chính phủ mới chỉ dành 0,3% GDP cho các trường đại học mà truyền thống từ trước đến nay vẫn thuộc quyền quản lý của nhà nước. Trong khi hầu hết sự tăng trưởng phải đến từ sự tham gia của khu vực tư nhân, chính phủ Indonesia vẫn tỏ ra lưỡng lự trong việc cởi trói và quốc tế hóa hệ thống quản lý giáo dục đại học của mình. Chất lượng đào tạo đại học của Indonesia rất thiếu ổn định và chưa có cơ sở đào tạo nào có tiếng và có thể đem ra so sánh ở bình diện quốc tế.

 

Một trường học tại Jakarta. [i]Nguồn: Reuters[/i]Một trường học tại Jakarta. Nguồn: Reuters


Những thách thức về giáo dục còn lớn hơn khi bên cạnh đó còn có những vấn đề liên quan đến thị trường lao động, đó là thiếu nhân lực trong khu vực chính thức và sự lệch pha về kỹ năng (giữa đào tạo và nhu cầu thị trường). Mức lương trong khu vực chính thức và khu vực hiện đại tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 1966-1996. Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á sau đó đã dẫn tới tình trạng lao động trong khu vực chính thức cùng mức lương thực tế giảm mạnh. Quá trình dân chủ hóa đã giải phóng cho những thái độ “ủng hộ giới cần lao” mạnh mẽ. Sự tăng cường quản lý nhà nước đối với thị trường lao động cùng tốc độ tăng trưởng chậm hơn đã dẫn tới sự tăng trưởng èo uột của nhân lực trong khu vực chính thức, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, nguồn gốc chủ yếu cho sự tăng trưởng năng động. Hệ quả là, trong con mắt của các nhà sản xuất thâm dụng lao động, Indonesia mất năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.


Ngoài ra còn có vấn đề về hạ tầng. Ở đây các vấn đề của Indonesia được nghiên cứu kỹ lưỡng và được ưu tiên cao về chính trị. Vấn đề là ở chỗ chi phí vận chuyển giữa các đảo rất cao. Điều này đẩy cơ cấu chi phí chung lên cao, đặc biệt là đối với các khu vực xa xôi, từ đó dẫn tới sự chênh lệch về giá cả giữa các khu vực. Về mặt hiệu quả trong khâu logistics, Indonesia đang đi sau tất cả các nước láng giềng ASEAN, ngoại trừ Philippines.


Việc thiếu vốn đầu tư đã là một trong những nguyên nhân dẫn đến hạ tầng của Indonesia vừa thiếu lại vừa yếu. Lấy cơ sở so sánh là tỷ lệ % trong tổng GDP, thì ngân sách dành cho hạ tầng của Indonesia chỉ bằng một nửa mức dưới thời ông Soeharto cũng như mức phổ biến ở các nền kinh tế Đông Á có tốc độ tăng trưởng cao khác. Những hạn chế về mặt quản lý nhà nước về cạnh tranh và cung cấp dịch vụ hiệu quả làm trầm trọng thêm những vấn đề này – giống như tâm lý e sợ vay mượn nước ngoài phổ biến trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính Châu Á; điều này có nghĩa là các chính phủ kế nhiệm chưa dám tận dụng hầu hết những khoản tài trợ ưu đãi được chào mời.


Nhìn nhận về lâu dài, Indonesia hiện đang ở trong những giai đoạn đầu tiên của quá trình thiết lập một sự đồng thuận dân chủ xung quanh các thể chế cần thiết cho một nền kinh tế thịnh vượng, công bằng và theo định hướng quốc tế. Những thách thức trong hệ thống pháp luật vẫn còn đó và có liên hệ mật thiết với cuộc chiến chống tham nhũng, tăng cường hiệu quả của cơ quan công quyền và cải thiện chất lượng quản lý nhà nước ở cấp độ địa phương.


Indonesia chỉ vừa mới bước vào câu lạc bộ các nước thu nhập trung bình. Trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá không hề có nghĩa là Indonesia đang ở trong “bẫy thu nhập trung bình”, đất nước vạn đảo này còn phải vượt qua những trở ngại đang ngáng trở tăng trưởng khi cố gắng tiến lên trong hàng ngũ các nước thu nhập trung bình. Điều may mắn là tất cả những vấn đề này đều có thể được khắc phục thông qua những cải cách tương đối thuần túy về mặt chính sách.

 

Hal Hill là Giáo sư Kinh tế học tại Đại học Quốc gia Australia; Haryo Aswicahyono là nghiên cứu viên tại Khoa Kinh tế học thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế vf Chiến lược (CSIS), Jakarta.

 

Một vài thông tin về Indonesia:

 

- Diện tích: 1,9 triệu km2; gồm khoảng 13.500 hòn đảo, trong đó có 6.000 đảo có người sinh sống

- Thủ đô: Jakarta

- Dân số (2015): 255 triệu người

- GDP (ước tính 2016): 936 tỷ USD

- GDP đầu người (ước tính 2016): 3.600 USD

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế những năm gần đây: 2011 (6,17%), 2012 (6,03%), 2013 (5,58%), 2014 (5,02%), 2015 (4,7%), 2016 (ước tính 5,3%)