Kinh tế Mỹ

Bội ước về TPP, còn ai ở Châu Á tin Mỹ nữa?

Thứ sáu, 25-11-2016 11:49 966


Việc Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà các nước tham gia đàm phán phải rất vất vả mới đi đến thống nhất có thể bị chết yểu đã khiến ngay cả những đồng minh thân cận nhất của Mỹ cũng đặt dấu hỏi về uy tín của nước này.

 

Nguồn: J. Berkshire Miller - Is there anyone in asia who still trusts america - Foreign Policy, 23/11/2016

 

Biên dịch: Dương Huy Quang


Khi bế mạc cuộc họp thượng đỉnh các nhà lãnh đạo của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) tại Peru tuần trước, các thành viên dự họp đã một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của thương mại tự do trong thông cáo chung của cuộc họp. Các nền kinh tế APEC, trong đó có Mỹ, cam kết tiếp tục “duy trì thị trưởng mở cửa và chống lại mọi hình thức bảo hộ”. Đây là nỗ lực quốc tế trước sự gia tăng các phát ngôn có tính cổ súy bảo hộ, nhất là từ chính quyền sắp nhậm chức tại Washington. Trong một video phát trên Youtube vào ngày thứ hai vừa rồi, ông Donald Trump đã cam kết coi việc đưa nước Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định thương mại tự do tiên phong do Mỹ dẫn dắt, là ưu tiên hàng đầu cho chính quyền của mình. Lời khẳng định chát chúa của ông Trump đã triệt tiêu bất cứ cơ may nào để Quốc hội Mỹ phê chuẩn hiệp định này trong những ngày cuối cùng của chính quyền hiện tại.


Uy tín của Mỹ trong khu vực đang bắt đầu sụp đổ trước khi TPP bị chính thức khai tử. Thất bại gần như chắc chắn của hiệp định này – ít nhất là ở hình thức hiện tại của nó – là đòn đánh choáng váng dành cho những đồng minh chủ chốt của Mỹ, đặc biệt là Nhật Bản, và các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam và Singapore, những nước vốn coi TPP như phép thử đối với sự cam kết của Washington dành cho Châu Á. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long nhận xét ngắn gọn nhưng đủ “Uy tín (của nước Mỹ) với tư cách một đồng minh đang có nguy cơ mất đi. Khi đó, còn ai có thể tin tưởng vào quý vị nữa?”


Đúng thực, việc ông Trump thắng cử đã khiến các bạn bè và đồng minh của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương lo lắng bởi họ sợ rằng chính quyền sắp nhậm chức có thể sẽ báo hiệu sự triệt thoái của Washington khỏi khu vực này. Mức độ quan ngại của các đồng minh của Mỹ, như Nhật Bản và Hàn Quốc, là khá đa dạng: từ việc chất vấn về vấn đề chia sẻ gánh nặng đồng minh tới kế hoạch của chính quyền mới (của Mỹ) đối với Bắc Triều Tiên, hay “hộp đen” chiến lược của Trump – hoặc là việc chẳng có hộp đen nào cả - trong việc đối phó với Trung Quốc.

 

Các nước tham gia TPP. [i]Nguồn: Internet[/i]Các nước tham gia TPP. Nguồn: Internet


Nhưng vấn đề cốt yếu nhất trong số này vẫn là khả năng chết yểu của TPP, điều nghe có vẻ như là điềm cáo chung cho những kế hoạch chiến lược rộng lớn hơn của Washington. Cụ thể, nó đánh dấu một đòn chí tử cho “sự tái cân bằng” của tổng thống Barack Obama tại Châu Á Thái Bình Dương. Đây là chính sách được dựa trên ba trụ cột chính là kinh tế, ngoại giao và an ninh, nhưng nền tảng kinh tế - và cũng có thể chính là nền tảng quan trọng nhất – lại chính là TPP, một hiệp định gồm 12 nước tham gia và chiếm 40% tổng sản phẩm quốc nội của toàn thế giới. TPP được khởi xướng với chủ định lấp đầy cách biệt và kết nối chính sách Châu Á của Washington với một chiến lược lâu dài, không chỉ gắn kết khu vực Châu Á-Thái Bình Dương với Mỹ mà còn nâng cao sự hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.


Thay vì dựa trên mô hình “trục (bánh xe) và nan hoa” của sự hiện diện của Mỹ tại Châu Á, vốn tập trung vào các mối bang giao cũng như các mối quan hệ đồng minh mang tính song phương, chủ đích của TPP là hậu thuẫn cho một mạng lưới ngoại giao và kinh tế có tính hợp nhất và giao thoa cao hơn với sứ mệnh kết nối các quốc gia có cùng tư tưởng trong khu vực dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Triển vọng về mạng lưới này tỏ ra đặc biết hấp dẫn đối với hầu hết các quốc gia trong khu vực. Dù cho có những lợi ích sâu sắc trong việc vun đắp mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc, các quốc gia này vẫn khát khao tìm kiếm một hậu phương để phòng ngừa cho trật tự kinh tế với Trung Quốc là trọng tâm đang dần dần thành hình trong khu vực.


Rõ ràng, thất bại của TPP sẽ là điềm lành cho Trung Quốc, nước vốn từ lâu đã có mối ngờ vực sâu sắc đối với nỗ lực thúc đẩy hiệp định này của Mỹ đồng thời căm giận việc Mỹ tạo ra quanh mình một thế trận bao vây mà nhiều người tin là chủ ý chống lại Trung Quốc. Tổng thống Obama đã cố gắng thúc đẩy hiệp định này trong nước bằng việc nhấn mạnh rằng TPP sẽ giúp tránh tình huống trong đó “Trung Quốc đứng ra đặt luật chơi” trong khu vực. Bắc Kinh nhìn nhận TPP như một nước đi bổ sung lộ liễu của chính sách “tái cân bằng” vốn nặng về vấn đề an ninh của chính quyền Obama – và tất cả những nước đi và chính sách đó đều nhằm kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.


Sự tiêu tan uy tín của Mỹ sẽ nghiêm trọng nhất tại Đông Nam Á, xuất phát điểm của TPP. Việc Mỹ thất bại trong việc giữ đúng cam kết gắn bó về mặt kinh tế với khu vực này sẽ dẫn tới việc các mối quan hệ bị suy yếu. Trong khi Mỹ về mặt lý thuyết có hai đồng minh theo hiệp ước là Philippines và Thái Lan (những nước không phải thành viên TPP), những mối quan hệ này trên thực tế khá mong manh và đã trở thành gót chân Asin trong mạng lưới an ninh tại Châu Á của Washington mà nguyên nhân là sự xuất hiện của nền chính trị sức mạnh tại cả hai quốc gia này - cụ thể là chính quyền quân sự ở Thái Lan và vị tổng thống theo chủ nghĩa dân tộc và thất thường tại Philippines.

 

TPP quan trọng bởi nó nhắm tới những mối quan hệ non trẻ tại Đông Nam Á với những quốc gia mới nổi chủ chốt như Việt Nam và Malaysia. Thương mại chính là nhân tố gắn kết hiệu quả cho nhiều quốc gia vốn mong muốn có quan hệ chặt chẽ hơn với Washington nhưng lại không muốn chung tay với Mỹ trong việc kiềm chế Trung Quốc. Lượng vốn có được thông qua sự hứa hẹn về TPP đã giúp vun đắp cho mối quan hệ của Washington với khu vực, đơn cử như sự phát triển chưa từng có tiền lệ của quan hệ quốc phòng với Việt Nam.


Sẽ không điều nào trong số những điều này có khả năng xảy ra. Trong khi quan điểm cuối cùng về các vấn đề an ninh khu vực vẫn chưa rõ ràng, thì các quan điểm về kinh tế của Trump đã rõ mười mươi. Trump đã xác định coi cải cách chính sách thương mại quốc tế, không chỉ có TPP mà còn gồm cả Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ, là ưu tiên hàng đầu cho chính quyền của mình.


Luận điểm chính của Trump trong việc chỉ trích TPP tập trung vào khía cạnh hiệp định này giúp thúc đẩy các nền kinh tế Châu Á mà cái giá phải trả là việc làm cho người Mỹ sẽ bị mất đi. Lập luận mang hơi hướng chủ nghĩa bảo hộ thế này không mấy thuyết phục nếu xét rằng những công việc lương cao trong các công ty của Mỹ chủ yếu là nhờ việc nước này có bán được hàng xuất khẩu ở thị trường nước ngoài hay không. TPP, cùng với với hiệp định thương mại tự do khác mà Mỹ tham gia, sẽ cho phép Mỹ được hưởng các mức thuế qua và rào cản thấp hơn khi tham gia thương mại tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương năng động. Theo một phân tích của Viện Kinh tế học quốc tế Peterson, TPP sẽ tạo ra tăng trưởng thu nhập thực ước tính khoảng 131 tỷ đôla tại Mỹ vào năm 2030. Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu ước tính cũng sẽ tăng 357 tỷ đôla vào năm 2030 nhờ hiệp định này.


Bên cạnh những lợi ích về kinh tế, TPP khác biệt so với những hiệp định thương mại lớn khác nhờ quyết tâm thiết lập một chuẩn mực cho thương mại tự do ở cấp cao mà các nước tham gia mất nhiều năm đàm phán ròng rã mới thống nhất được. Về bản chất, TPP không chỉ nhắm tới việc giảm thuế quan và cho phép tiếp cận thị trường tự do mà còn đi xa hơn qua việc yêu cầu các nước ký kết phải thực hiện những cải cách sâu rộng về cấu trúc và quản lý nhà nước. Nhiều cam kết cải cách trong số này đã được chấp nhận với cái giá phải trả rất cao về chính trị đối với các đồng minh của Mỹ, ví dụ như Nhật Bản, và những nước bạn hữu đang nổi trong khu vực như Việt Nam – những nước này giờ đang lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan khi phải chọn giữa việc vứt bỏ thỏa thuận mà họ đã tiêu tốn vào biết bao thời gian và vốn liếng hay chấp nhận một phiên bản “TPP-lite” (TPP rút gọn) không có Mỹ trong tương lai trước mắt.


Bước lùi với TPP đã tạo cơ hội cho việc tái khởi hoạt lại các hiệp định do Trung Quốc lãnh đạo, bao gồm Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Trong khi nhiều nước đồng thời là thành viên của cả TPP lẫn RCEP, điểm khác biệt đáng ngạc nhiên nhất là sự vắng bóng của Trung Quốc trong TPP và của Mỹ trong RCEP. Bắc Kinh cũng có khả năng sẽ thúc đẩy mạnh hơn các kế hoạch kinh tế của mình cho khu vực bằng cách xúc tiến các sáng kiến về hạ tầng như Ngân hàng Đầu tư hạ tầng Châu Á hay sáng kiến Một vành đai Một con đường. Bắc Kinh cũng có thể sẽ tìm cách đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực thông qua việc hoàn tất các cuộc đàm phán về thương mại ba bên với Nhật Bản và Hàn Quốc. Trung Quốc đã ký một hiệp định song phương với Hàn Quốc vào năm 2015. Các bước đi khác có thể có là Hiệp định Thương mại tự do tại Châu Á-Thái Bình Dương – một sáng kiến lý tưởng do APEC dẫn đầu bao gồm cả Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên, khả năng sáng kiến này trở thành hiện thực có vẻ như còn ít hơn cả TPP.


Thất bại trong cam kết của Mỹ đối với TPP làm xói mòn di sản của sáng kiến nổi bật về chính sách đối ngoại tái cân bằng tại Châu Á của ông Obama. Nó cũng dẫn tới tình trạng bất định trong khu vực khi các nước không biết tìm kiếm sự lãnh đạo từ đâu. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, người ban đầu phản đối TPP, giờ đây – thật trớ trêu – lại trở thành người cổ vũ nhiệt thành nhất cho hiệp định này. “Thành công hay thất bại sẽ quyết định hướng đi của hệ thống thương mại tự do toàn cầu tại Châu Á-Thái Bình Dương”, ông Abe nói. Lời cảnh báo này không chỉ là chiêu để khơi lên sự sợ hãi ở Washington mà còn đại diện cho những quan ngại của những bạn hữu đáng tin cậy nhất của Mỹ tại khu vực này. Ông Trump nên cân nhắc những hệ quả đó.