Kinh tế Mỹ

Chủ nghĩa bảo hộ mới có phải giải pháp cho những vấn đề của người lao động Mỹ?

Thứ hai, 27-02-2017 16:40 814

Nếu các đời tổng thống Mỹ trước đây sử dụng các chính sách theo chủ nghĩa bảo hộ mới mà người ta đang đề xuất để níu giữ những công việc đòi hỏi kỹ năng thấp khi những công việc đó bắt đầu chuyển dịch sang các nước đang phát triển, thì nền kinh tế Mỹ ngày nay có thể đang có một khu vực sản xuất lớn hơn và thâm dụng lao động. Nhưng nếu như thế, nền kinh tế Mỹ chẳng khác nào một nền kinh tế đang phát triển!

 

Nguồn: Kaushik Basu - America’s Dangerous Neo-Protectionism - Project Syndicate, 13/02/2017

 

Biên dịch: Dương Huy Quang

 

Tổng thống Mỹ Donald Trump sắp phạm phải một sai lầm về chính sách. Sai lầm này sẽ gây phương hại – đặc biệt là trong ngắn hạn – cho các nước thuộc vùng Châu Phi hạ Sahara, Châu Mỹ La tinh, và Châu Á, nhất là những nền kinh tế đang nổi như Trung Quốc và Sri Lanka (những nước vốn có thặng dư thương mại lớn với Mỹ) hay Ấn Độ và Philippines (các nước chuyên nhận cung cấp dịch vụ mà Mỹ thuê ngoài). Thế nhưng sẽ chẳng nước nào chịu tổn hại nhiều hơn chính nước Mỹ.


Chính sách mà chúng ta nói tới là một kiểu chủ nghĩa bảo hộ tân tự do xa lạ – ta hãy gọi nó là “chủ nghĩa bảo hộ mới”. Một mặt, nó là nỗ lực để “cứu” việc làm trong nước thông qua việc áp thuế thật cao lên hàng hóa nước ngoài, tác động đến tỷ giá hối đoái, hạn chế dòng nhân công nước ngoài vào nước Mỹ và tạo ra những rào cản hạn chế việc thuê ngoài. Mặt khác, nó còn bao gồm việc dỡ bỏ các quy định quản lý về tài chính theo xu hướng tân tự do. Đây không phải là cách thức giúp đỡ giai cấp lao động Mỹ trong thời đại này.


Người lao động Mỹ đang đối mặt với những thách thức lớn lao. Mặc dù nước Mỹ hiện đang khoe tỷ lệ thất nghiệp chỉ ở mức 4,8%, trên thực tế nhiều người Mỹ chỉ đang làm việc bán thời gian và tỷ lệ tham gia lao động của lực lượng lao động (tức tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động đang thực sự làm việc hoặc đang tìm kiếm việc làm) đã giảm từ mức 67,3% năm 2000 xuống còn 62,7% vào tháng 1 năm nay. Ngoài ra, mức lương thực tế cũng đã dậm chân tại chỗ nhiều thập kỷ nay; còn thu nhập hộ gia đình trung vị thực hiện nay chỉ bằng với mức năm 1998. Từ năm 1973 đến năm 2014, thu nhập của 20% hộ gia đình nghèo nhất trên thực tế đã giảm một chút, ngay cả khi thu nhập của 5% hộ giàu nhất đã tăng gấp đôi.


Một yếu tố dẫn đến những xu hướng này là sự sụt giảm các công việc trong khu vực sản xuất. Thành phố Greenville, tiểu bang South Carolina, là ví dụ cụ thể. Từng được biết đến như là Thủ phủ Ngành dệt của Thế giới với 48.000 lao động vào năm 1990, thành phố giờ đây chỉ còn lại khoảng 6.000 công nhân dệt.


Nhưng những yếu tố kinh tế học thúc đẩy những xu hướng này còn phức tạp hơn nhiều so với những gì mà những cuộc nói chuyện hàng ngày cho chúng ta biết. Thương mại rộng mở hay tình trạng nhập cư chỉ là một phần nhỏ của thử thách lớn lao mà người lao động giờ đây phải đối mặt; thủ phạm lớn hơn nhiều là sự đổi mới về công nghệ và nhất là xu hướng robot hóa và trí thông minh nhân tạo, cả hai yếu tố này đều đã góp phần làm tăng năng suất ở mức độ đáng kể. Từ năm 1948 đến năm 1994, quy mô công ăn việc làm trong khu vực sản xuất đã giảm tới 50% trong khi sản lượng tăng tới 190%.


Theo một nghiên cứu được tiến hành tại Đại học Ball State, nếu năng suất đã giữ nguyên không đổi từ năm 2000 tới năm 2010, Mỹ lẽ ra đã cần tới 20,9 triệu công nhân sản xuất để có thể sản xuất được khối lượng hàng hóa mà nước này đã sản xuất được tại cuối thời kỳ đó. Tuy nhiên, sự tăng trưởng năng suất nhờ công nghệ đồng nghĩa với việc Mỹ chỉ cần 12,1 triệu công nhân. Nói cách khác, 42% số lượng việc làm trong khu vực sản xuất đã bị mất đi trong giai đoạn này.


Khi trong một số hình thức bảo hộ được nhắm tới có thể đóng một vai trò nào đó trong việc hỗ trợ cho người lao động Mỹ, chủ nghĩa bảo hộ mới không phải là câu trả lời cho mọi vấn đề. Và nó cũng không hiệu quả; thậm chí, nó còn sẽ gây ra những tác hại đáng kể.


Sự thật đơn giản là, nhờ tất cả các yếu tố từ các tuyến vận tải biển hiệu quả và an toàn tới công nghệ kỹ thuật số và Internet, một kho tài nguyên lớn lao động giá rẻ đã được mở toang cho các nhà sản xuất trên toàn cầu. Những nỗ lực của Mỹ nhằm ngăn cản các doanh nghiệp trong nước khai thác nguồn tài nguyên này sẽ không làm thay đổi thực tế, và cũng sẽ không ngăn được các công ty ở những nơi khác làm như vậy. Hệ quả là các nhà sản xuất Mỹ sẽ trở nên kém cạnh tranh hơn so với các nhà sản xuất từ các nước như Đức, Pháp, Nhật Bản và Hàn Quốc. Trong khi đó, việc dỡ bỏ các quy định quản lý trong khu vực tài chính sẽ làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng về kinh tế trong nội tại nước Mỹ.

 


Một giải pháp hiệu quả cho các vấn đề mà người lao động Mỹ đang phải đối mặt phải nhìn nhận rõ gốc rễ của những vấn đề đó là ở đâu. Mỗi khi một công nghệ mới cho phép một doanh nghiệp sử dụng ít lao động hơn, thì sẽ có một sự dịch chuyển (khoản mục) từ tổng hóa đơn tiền lương sang lợi nhuận. Tuy nhiên, điều mà người lao động cần là nhiều tiền lương hơn. Nếu tiền lương không đến từ người sử dụng lao động, thì nó phải đến từ một nơi nào đó khác.


Đúng vậy, đã đến lúc cần cân nhắc một hình thức thu nhập cơ bản và chia sẻ lợi nhuận nào đó. Phần Lan đã thử nghiệm hình thức này. Tại các nước đang phát triển, Ấn Độ - trong một cuộc điều tra kinh tế mới đây - cũng đã lên kế hoạch đề cương cho một phương án đầy đủ.


Tương tự, hệ thống thuế cần được làm cho trở nên tiến bộ hơn; với hiện trạng như bây giờ, có quá nhiều lỗ hổng cho những người siêu giàu tại Mỹ. Việc đầu tư vào những hình thức giáo dục mới cho phép người lao động đảm nhiệm những công việc sáng tạo hơn mà robot không thể làm được cũng sẽ là yếu tố quan trọng.


Một số nhân vật cánh tả của Mỹ, ví dụ như Thượng nghị sỹ Bernie Sanders, đã lên tiếng kêu gọi có những chính sách như vậy. Họ hiểu rằng xung đột ở đây là xung đột giữa lao động và tư bản, trong khi những người theo chủ nghĩa bảo hộ mới lại nói đi nói lại về sự cạnh tranh giữa lao động của Mỹ và lao động nước ngoài. Nhưng chính những người theo chủ nghĩa bảo hộ mới là những người giành được nhiều quyền lực nhất và họ đang đe dọa sẽ đi theo một nghị trình theo đó sẽ cắt đi đôi cánh của các nhà sản xuất Mỹ và cuối cùng sẽ làm suy giảm vị thế của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu.


Khi Greenville chứng khiến lợi thế cạnh tranh của khu vực sản xuất của mình bắt đầu suy giảm, thành phố này đã có thể thử tạo ra những biện pháp ưu đãi nhân tạo để bảo vệ các doanh nghiệp. Nhưng, thay vào đó, họ lại tạo ra những biện pháp ưu đãi để các loại hình doanh nghiệp khác tham gia vào thị trường. Sự đa dạng hóa này đã thúc đẩy nền kinh tế của thành phố, ngay cả khi nó mất đi đa số công việc trong lĩnh vực sản xuất dệt.


Đó là cách suy nghĩ mà nước Mỹ ngày nay nên áp dụng. Nếu các đời tổng thống Mỹ trước đây sử dụng các chính sách theo chủ nghĩa bảo hộ mới mà người ta đang đề xuất để níu giữ những công việc đòi hỏi kỹ năng thấp khi những công việc đó bắt đầu chuyển dịch sang các nước đang phát triển, thì nền kinh tế Mỹ ngày nay có thể đang có một khu vực sản xuất lớn hơn và thâm dụng lao động. Nhưng nếu như vậy, nền kinh tế Mỹ chẳng khác nào một nền kinh tế đang phát triển!

 

Kaushik Basu, là cựu trưởng kinh tế gia của Ngân hàng Thế giới và là Giáo sư Kinh tế học tại Đại học Cornell.