Kinh tế Thế giới

OPEC cắt giảm sản lượng để tăng giá dầu: Chưa chắc thành công

Thứ ba, 13-12-2016 19:06 547

OPEC cắt giảm sản lượng để đẩy giá dầu tăng lên, nhưng nhiều yếu tố sẽ khiến ý định này chưa chắc đã thành công

 

Nguồn: Gürcan Gülen - http://www.businessinsider.com/why-opecs-move-to-drive-up-oil-prices-might-not-work-2016-12

Biên dịch: Dương Huy Quang

 

Sau nhiều tháng đồn đoán của các nhà quan sát thị trường dầu mỏ, cuối cùng thì Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) gần đây cũng đã công bố cắt giảm sản lượng dầu trong thời gian 6 tháng với mức cắt giảm 1,2 triệu thùng/ngày; mục tiêu không gì khác đẩy giá dầu lên cao. Đợt cắt giảm lần này sẽ bắt đầu có hiệu lực ngày 1/1/2017.


Ả-rập Xê-út sẽ chịu gần một nửa sản lượng cắt giảm, cụ thể là gần 500.000 thùng/ngày, tiếp theo là I-rắc với 210.000 thùng/ngày, Kuwait và các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất mỗi nước khoảng 135.000 thùng/ngày. Nga – nước không phải thành viên OPEC – cũng cam kết cắt giảm khoảng 300.000 thùng/ngày như một phần của thỏa thuận.


Động thái cắt giảm này – theo kế hoạch sẽ được kéo dài trong 6 tháng – là nhằm phản ứng trước tình hình thị trường dầu mỏ èo uột, quá thừa cung trong khi quá thiếu cầu. Hệ quả của tình trạng này là lần đầu tiên kể từ năm 1998 OPEC đã báo cáo tổng mức thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức gần 100 tỷ USD chỉ trong năm 2015, cách một trời một vực so với mức thặng dư 238 tỷ USD năm 2014.


Giá dầu thô đã phản ứng đúng như mong đợi khi ngay lập tức tăng 15%, dao động quanh mức 51 USD/thùng. Đây là mức có thể nói là cao so với mức chưa tới 30 USD/thùng vào thời điểm đầu năm nay.


Tuy nhiên, đợt cắt giảm đã được lên kế hoạch và phản ứng của thị trường đã làm dấy lên những câu hỏi, ví dụ như tại sao giá dầu lại tăng mặc dù đợt cắt giảm chưa chính thức có hiệu lực và liệu giá dầu có tiếp tục tăng nữa hay không. Là một nhà kinh tế học năng lượng, tôi tin rằng cách tốt nhất để trả lời những câu hỏi như thế này là đi sâu khám phá một khái niệm cơ bản trong lĩnh vực chuyên môn của tôi: đó là quy luật Cung - Cầu.


Kinh tế học 101


Thị trường dầu mỏ vô cùng khó lường bởi có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá cả.


Các yếu tố thuộc về bên cung bao gồm chất lượng dầu thô, chi phí phát triển và sản xuất, mức độ tiếp cận nguồn tài nguyên, hiện trạng cơ sở hạ tầng, các quy định về môi trường và kinh tế và hành vi của các nhà cung cấp, ví dụ như OPEC.


Phức tạp hơn có lẽ là các yếu tố thuộc về bên cầu, cụ thể là: sự tăng trưởng nhu cầu tại các thị trường khác nhau đối với các sản phẩm dầu mỏ khác nhau, hiện trạng nền công nghiệp lọc dầu, chính sách giá (thuế và trợ giá) đối với các sản phẩm khác nhau tại các nước khác nhau, các quy định về môi trường đối với khâu sử dụng sau cùng và các chính sách năng lượng liên quan tới vấn đề hiệu quả năng lượng và các nguồn năng lượng thay thế.


Trong khi giao dịch tài chính là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới giá dầu về ngắn hạn, việc giá dầu có tiếp tục tăng trong những tuần và tháng tới hay không sẽ tùy thuộc vào những yếu tố động lực học Cung/Cầu căn bản.


Liệu các nước thành viên có chấp hành?


Thứ nhất, các nước thành viên OPEC có một tiền sử không mấy hoàn hảo trong việc tuân thủ các thỏa thuận cắt giảm sản lượng trước đây.

 

Khi OPEC lần đầu tiên áp dụng chế độ hạn ngạch vào đầu những năm 1980, Ả-rập Xê-út đã phải giảm sản lượng xuống còn 6 triệu thùng/ngày để duy trì hạn ngạch của tổ chức này khi các nước thành viên khác thi nhau phá vỡ cam kết. Từ năm 2009 tới năm 2013, sản lượng của OPEC nhìn chung thường cao hơn từ 1 triệu đến 2 triệu thùng/ngày so với hạn ngạch quy định.


Do vậy, việc đảm bảo các nước thành viên tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng là điều cực kỳ quan trọng nếu muốn thị trường tin rằng thỏa thuận cắt giảm này sẽ có hiệu lực thực sự.

 

Bộ trưởng Năng lượng Ả-rập Xê-út Khalid al-Falih (L) phát biểu với các phóng viên trước cuộc họp Bộ trưởng dầu mỏ các nước OPEC tại Vienna  tháng 6/2016Bộ trưởng Năng lượng Ả-rập Xê-út Khalid al-Falih (L) phát biểu với các phóng viên trước cuộc họp Bộ trưởng dầu mỏ các nước OPEC tại Vienna tháng 6/2016


Ngoài ra, dữ liệu về dầu, đặc biệt và dữ liệu về sản lượng và lưu kho của các công ty thuộc nhà nước, thường rất mù mờ. Mức sản lượng “tham chiếu” đối với một số nước, ví dụ như Iran, I-rắc, Venezuela, có thể cao hơn mức sản lượng thực tế mà họ có thể duy trì. Mức sản lượng tham chiếu là mức cơ sở được dùng để xác định mức cắt giảm.


Đơn cử, mặc dù sản lượng dầu trong tháng 10 của Iran được báo cáo ở mức khoảng 3,7 triệu thùng/ngày, nhưng mức tham chiếu được chấp nhận là 3,975 triệu thùng/ngày, bằng với mức sản lượng cao đỉnh điểm của nước này năm 2005.


Sản lượng dầu của Nga – nước không phải chịu giám sát của OPEC – có thể sụt giảm trong những tháng mùa đông do các đợt bảo trì được thực hiện theo kế hoạch hoặc do tập trung vào công đoạn khoan.


Nói cách khác, các con số cắt giảm thoạt nhìn có vẻ tuân thủ đúng thỏa thuận, nhưng nguồn cung thực tế ra thị trường toàn cầu có thể không khác nhiều so với khi không có thỏa thuận cắt giảm.


Liệu các công ty Mỹ có trở lại "góp vui"?


Thứ hai, việc các nhà sản xuất dầu phi truyền thống Mỹ đang khai thác các mỏ dầu phi truyền thống (như dầu đá phiến) ở Bắc Dakota có khả năng và có sẵn sàng tận dụng giá dầu cao bằng cách khoan thêm giếng hay tăng sản lượng lên hay không cũng là yếu tố có tầm quan trọng cốt yếu.


Điều trùng hợp là sản lượng dầu của Mỹ đã giảm trên 1 triệu thùng/ngày sau khi giá dầu lao dốc vào đầu năm ngoái. Như vậy nếu Mỹ tăng sản lượng để tận dụng giá dầu tăng, thì nỗ lực cắt giảm sản lượng của OPEC coi như đổ ra sông ra biển. Câu hỏi khi đó là sẽ: Liệu giá dầu cao có cám dỗ các nhà sản xuất Mỹ trở lại khoan dầu để bán hay không?


Từ khi giá dầu sụt giảm, các hoạt động khoan dầu tại Mỹ chỉ tập trung tại Bể Permian tại miền Tây Texas và New Mexico. Số lượng giàn khoan hoạt động tại khu vực Permian đã tăng khoảng 100 chiếc kể từ tháng 4 lên 235 chiếc hiện nay, bằng gần một nửa con số 477 giàn khoan dầu đang hoạt động trên cả nước Mỹ. Ngoài ra còn có 119 giàn khoan khí khác đang hoạt động. Vào lúc cao điểm tháng 10/2014, cả nước Mỹ có tới 1.609 giàn khoan hoạt động tại các bồn trũng chứa dầu.


Giá dầu ổn định ở mức trên 50 USD/thùng sẽ khuyến khích các nhà sản xuất Mỹ khoan dầu nhiều hơn.

 


Tuy nhiên, các nhà vận hành “thượng nguồn” (tức các nhà thăm dò và sản xuất), cùng công ty dịch vụ mỏ dầu và các doanh nghiệp kho vận “trung nguồn” đã và đang đi qua một giai đoạn điều chỉnh; họ đã phải đắp chiếu hàng trăm giàn khoan và sa thải hàng hàng nhân công. Sẽ không dễ để tái huy động các nguồn lực này một cách nhanh chóng. Và cũng không rõ là làm như vậy thì có hợp lý về mặt tài chính hay không.


Việc sẵn có các khoản vay giá rẻ trong thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính với lãi suất siêu thấp đã khuyến khích quá nhiều công ty tiến hành khoan quá nhiều giếng dầu một cách chóng vánh, điều này dẫn tới sự sụp đổ của giá bán khí tự nhiên tại Mỹ vào đầu những năm 2010 cũng như sự sụp đổ giá dầu vào cuối năm 2014. Nhiều công ty vẫn đang ngập trong nợ nần kể từ đó.


Nếu giá dầu giảm sau khi nhiều tỷ USD tiền đầu tư mới được chi ra, sự phục hồi về tài chính của nhiều công ty sẽ gặp bất lợi. Cùng với sự bất trắc của diễn biến lãi suất (mà người ta trông đợi sẽ tăng) và phí tổn rất cao của việc tái huy động giàn khoan cùng nhân sự, sẽ khó để hình dung ra việc các công ty dầu của Mỹ sẽ phản ứng thái quá trước đợt cắt giảm sản lượng của OPEC.

 

Hai "nhân tố bí ẩn" Libya và Nigeria


Thứ ba, Libya và Nigeria, mặc dù là thành viên OPEC nhưng lại không tham gia thỏa thuận cắt giảm sản lượng vừa công bố.


Sản lượng dầu của Libya đã phục hồi từ mức 250.000 thùng trong tháng 8 và đã đạt mức gần 600.000 thùng/ngày vào cuối tháng 11 vừa qua. Mục tiêu dài hạn của Libya là mức 1,6 triệu thùng/ngày, bằng với mức trước khi ông Muammar Gaddafi bị phế truất khỏi chức vụ tổng thống. Dự kiến sang năm sau nước này có thể đi được nửa quãng đường tới mục tiêu này.


Nigeria có thể đủ khả năng sản xuất khoảng 2 triệu thùng/ngày, nhưng những gián đoạn về đường ống do cuộc xung đột tại vùng Châu thổ Nigeria đã khiến sản lượng sụt xuống còn 1,5 triệu thùng/ngày. Việc giải quyết cuộc xung đột – dù đây là nhiệm vụ không hề đơn giản nếu xét tới lịch sử của nó – có thể đưa thêm nguồn cung dầu ra thị trường, từ đó kéo giá dầu xuống thấp.


Bài toán kinh tế học vĩ mô


Cuối cùng, nền kinh tế thế giới trong vài năm gần đây vẫn trong tình trạng thiếu sinh khí bất chấp việc giá dầu ở mức thấp (mặc dù giá dầu thấp trong lịch sử thường là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế). Sự tăng trưởng nhu cầu dầu gần như không tồn tại.


Một lý do tiềm tàng của tình trạng này là sự cắt giảm trợ giá nhiên liệu tại một số quốc gia chủ chốt như Trung Quốc. Do vậy, người tiêu dùng ở nhiều nước có thể đang phải chịu mức giá của năm 2014 khi giá dầu ở mức 90 USD/thùng và sẽ phải tiếp tục trả mức giá này trừ khi chính phủ các nước khôi phục chính sách trợ giá. Điều này có thể khó xảy ra bởi chính sách kinh tế vĩ mô ở nhiều nước có vẻ như đang thất bại trong việc kích thích nền kinh tế.


Đồng thời, nhiều năm thực hiện chính sách hậu thuẫn cho sự hiệu quả về năng lượng cũng như các nhiên liệu cùng công nghệ thay thế cùng việc hạn chế khí thải có thể cản trở sự tăng trưởng nhu cầu dầu ở một số nước. Người ta chỉ có thể đồn đoán rằng một sự gia tăng giá dầu ổn định và đáng kể sẽ khuyến khích những chính sách này.


Nhìn tổng quan, đợt cắt giảm sản lượng của OPEC không giúp thúc đẩy sự tăng trưởng nhu cầu. Trong khi giúp tăng giá dầu, nó rốt cuộc lại có thể làm nhu cầu dầu giảm xuống.


Trở lại với những nguyên lý căn bản


Thật khó để phân tích tỉ mỉ và thỏa đáng sự phức tạp của động lực học thị trường dầu trong một bài viết ngắn như thế này.


Nói ngắn gọn, đợt cắt giảm sản lượng của OPEC đã đem lại chút thư thả cho các nhà sản xuất dầu – xét ở khía cạnh giá dầu đã tăng cao hơn – nhờ sự háo hức của các nhà giao dịch tài chính. Nhưng một khi cơn háo hức qua đi, những nguyên lý đề cập trên đây cùng những nguyên lý căn bản khác về cung cầu sẽ đóng vai trò quyết định diễn biến của giá dầu.


Mặc dù giá dầu cao giúp tăng doanh thu cho nhà sản xuất và làm chậm việc tích lũy tồn kho, nó cũng có thể ngăn cản sự tăng trưởng nhu cầu và khuyến khích gia tăng sản lượng quá sớm.