Kinh tế Trung Quốc

Bức “Vạn Lý Trường…Nợ” của Trung Quốc

Thứ tư, 28-12-2016 23:24 1313

Sự bùng phát đầu tư của Trung Quốc đã dựng lên một bức vạn lý trường thành các khoản nợ đe dọa sự thịnh vượng của nước này. Trừ khi Trung Quốc thay đổi chiến lược theo hướng lựa chọn các dự án đầu tư hạ tầng với số lượng ít hơn nhưng chất lượng cao hơn, nước này sẽ tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn quốc.

 

Nguồn: Atif Ansar và Bent Flyvbjerg, "China's Great Wall of debt", 28/11/2016

 

Biên dịch: Dương Huy Quang


Trong 3 thập niên, Trung Quốc đã trải qua một đợt bùng nổ đầu tư công khiến người ta kinh ngạc. Năm 2014, Trung Quốc đã chi 4,6 nghìn tỷ USD cho tài sản cố định, chiếm 24,8% tổng đầu tư toàn cầu và gấp đôi tổng GDP của Ấn Độ. Tuy nhiên, cơn điên đầu tư công của Trung Quốc cũng đi đôi với sự tích tụ nợ vay nhanh chóng. Trong giai đoạn từ năm 2000 tới năm 2014, tổng nợ của Trung Quốc đã tăng vọt từ 2,1 nghìn tỷ USD lên 28,2 nghìn tỷ USD — lớn hơn cả GDP của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Đức cộng lại.



Sự bùng phát đầu tư của Trung Quốc đã dựng lên một bức vạn lý trường thành các khoản nợ đe dọa sự thịnh vượng của nước này. Trừ khi Trung Quốc thay đổi chiến lược theo hướng lựa chọn các dự án đầu tư hạ tầng với số lượng ít hơn nhưng chất lượng cao hơn, nước này sẽ tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn quốc mà xuất phát điểm là khu vực hạ tầng; một cuộc khủng hoảng như vậy rất có thể sẽ lan ra nền kinh tế toàn cầu.


Thực tế này được minh hoạ bởi một báo cáo phân tích mới đây đối với 95 dự án giao thông đường bộ và đường sắt lớn của Trung Quốc cùng 806 dự án giao thông được triển khai tại các nước dân chủ giàu có. Một dự án đầu tư hạ tầng điển hình của Trung Quốc thường bị đội vốn và hụt mục tiêu đề ra, từ đó triệu tiêu mọi lợi ích về kinh tế. Tại Trung Quốc, chi phí xây dựng hạ tầng thực tế thường cao hơn trung bình 30,6% so với mức dự toán được tính toán kỹ lưỡng dựa trên cơ sở đề xuất chính thức của dự án. Bằng chứng có được cho thấy chi phí thường được xác định theo hướng hạ thấp so với thực tế một cách có hệ thống.


Về hiệu quả giao thông, nhu cầu tại Trung Quốc cho thấy hai thái cực đối lập nhau. Đa số các tuyến đường có lưu lượng xe cộ lưa thưa trong khi một số ít các tuyến khác lại xảy ra hiện tượng ùn tắc nghiêm trọng. Hiện trạng chỗ thừa, chỗ thiếu ở mức độ này cho thấy có tồn tại hiện tượng phân bổ nguồn lực không hợp lý.


Trong mẫu khảo sát của chúng tôi, trên ½ số dự án có tỷ lệ lợi ích/chi phí thực tế nhỏ hơn 1.0; điều này có nghĩa là những dự án như vậy ngay từ khi bắt đầu vòng đời khai thác đã không hiệu quả về kinh tế. Chưa tới 1/3 số mẫu của chúng tôi có thể được xem là thực sự có hiệu quả về kinh tế.


Đặc điểm đội chi phíhụt mục tiêu của các dự án đầu tư hạ tầng tại Trung Quốc có liên hệ với vấn đề nợ đang gia tăng của nước này. Chúng tôi ước tính rằng mức chi phí đội lên xấp xỉ bằng 1/3 tổng số nợ 28,2 nghìn tỷ USD của Trung Quốc. Tỷ lệ nợ trên GDP của Trung Quốc hiện ở mức 280%, vượt xa tỷ lệ của nhiều nền kinh tế phát triển và của tất cả các nước đang phát triển mà chúng tôi có số liệu.


Tính toán đã điều chỉnh của chúng tôi về tỷ lệ nợ chính phủ ngầm trên GDP của Trung Quốc cho thấy chính phủ Trung Quốc là chính phủ mắc nợ nhiều thứ hai trên thế giới sau Nhật Bản. Sự mở rộng tiền tệ quá mức đã song hành với sự gia tăng nợ của Trung Quốc — Cung tiền mở rộng M2 của Trung Quốc đã tăng trưởng 12,9 nghìn tỷ USD trong giai đoạn 2007-2013, lớn hơn toàn bộ các nước khác trên thế giới cộng lại. Hệ quả của việc này là sự mong manh ngày càng tăng về tài chính và kinh tế.


Khi nói đến đầu tư hạ tầng, thì bớt nghĩa là thêm. Hạ tầng hỗ trợ cho phát triển kinh tế nếu các khoản đầu tư hạ tầng có hiệu quả. Từ “nếu” vốn rất quan trọng ở đây thì lại thường xuyên bị ngó lơ trong các cuộc tranh luận về chính sách; chính điều này đã khiến Trung Quốc rơi vào thế khó như hiện tại. Các phát hiện của chúng tôi gợi ý rằng nếu trước đây Trung Quốc tập trung vào khoảng 1/3 trong số các khoản đầu tư có hiệu quả nhất của mình, nước này đã có thể gặt hái những lợi ích kinh tế lâu dài mà không phải khổ sở vì nợ như bây giờ.


Một điểm khó hiểu nữa về các cuộc tranh luận liên quan đến tình trạng tích tụ nợ quá nhanh là việc nhiều nhà kinh tế học lại dung túng cho sự hoang phí này. Nhà kinh tế giành giải Nobel Paul Krugman ngày càng tích cực khuyến khích các quốc gia vay nợ. Tương tự, Nicholas Lardy cũng xem nhẹ bức vạn lý trường nợ của Trung Quốc.


Các lập luận theo trường phái Tân Keynes nhìn nhận nợ công lớn là dấu hiệu lành là hết sưc lầm lạc. Một gói kích thích kiểu Keynes có thể cần thiết để đẩy nền kinh tế hướng tới phía trước khi gặp khủng hoảng. Nhưng các khoản đầu tư vẫn cần hiệu quả để tránh những món nợ tích dồn mà không tạo ra đủ các nguồn lợi ích phí thu từ người dùng cuối hay nguồn thu từ thuế.

 

Biếm họa về nợ công Trung Quốc: "Tôi hiểu rằng nó lớn đến mức từ mặt trăng cũng nhìn thấy được". Ảnh: http://ivn.us/2012/08/08/china-and-u-s-debt-the-great-wallet-of-china/


Hơn nữa, việc sử dụng gói kích thích như vậy một cách thường xuyên hơn hay ít thường xuyên hơn nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng cao của quốc gia cũng chỉ được đánh giá rất sơ sài. Điều này đặc biệt đúng nếu gói kích thích được tài trợ bằng vay nợ như hiện trạnh tại Trung Quốc. Vay nợ đến mức này để tài trợ cho hạ tầng thì sẽ dẫn tới bất ổn. Những tác động tiêu cực về kinh tế vĩ mô bao gồm những biến động về lãi suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, biến động khó lường về giá tài sản, hệ quả tiêu cực về tăng trưởng, thất nghiệp gia tăng do giảm vay nợ và tình trạng thiếu vốn để thực hiện các dự án đầu tư hiệu quả. Nhiều hệ quả trong số này đã trở thành hiện thực tại Trung Quốc năm 2016.


Phần lớn chủ nợ của Trung Quốc là các hộ gia đình của nước này. Các chủ nợ này nhiều về số lượng nhưng tản mát và phải đối mặt với những con nợ quốc doanh đầy sức mạnh. Xét tới bản chất độc đoán của chính quyền, các con nợ quốc doanh của Trung Quốc có thể không mấy lưỡng lự trong việc cưỡng chiếm những khoản tiền tiết kiệm và lương hưu của chính đồng bào mình. Trung Quốc có thể tránh được một cuộc sụp đổ về tài chính với tính chất khiến người ta bàng hoàng, nhưng việc trấn áp về mặt tài chính đối với những hộ gia đình chủ nợ ít lương thiện hơn sẽ là việc không thể tránh để giải quyết các khoản nợ của nước này.


Nợ bình quân đầu người của Trung Quốc hiện ở mức trên 20.000 USD. Tỷ lệ nợ bình quân đầu người trên thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc là 11,5 - lớn hơn nhiều so với Mỹ (7,5) hay Brazil (8,1) và tương đương với Hy Lạp (11,8). Từ năm 2009, Hy Lạp đã lâm vào một trong những cuộc khủng hoảng nợ công tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới gần đây; và các gia đình nhèo là những đối tượng chịu ảnh hưởng đặc biệt lớn. Các nước khác có tỷ lệ nợ trên thu nhập tương tự như Tây Ban Nha và Nhật Bản thì đang trải qua giai đoạn trì tệ kinh tế mà nguyên nhân là do vay nợ.


Trung Quốc có dân số đang lão hóa cùng mức của cải tương đối thấp. Trong khi đó mạng lưới an toàn xã hội và hệ thống lương hưu lại kém phát triển hơn nhiều so với các nền kinh tế mắc nợ nhưng phát triển hơn khác. Việc cố gắng tránh tình trạng kinh tế trì tệ đòi hỏi Trung Quốc phải đầu tư một cách hiệu quả hơn.


Quy mô và cách tiếp cận không có kiểm soát đối với việc in tiền mới đã cho phép Trung Quốc đáp ứng việc trả nợ ở mức độ ít có nền kinh tế nào khác có thể bì kịp. Các nền kinh tế đang phát triển — kể cả những nền kinh tế lớn như Nigeria, Pakistan hay Brazil — sẽ không dám khinh xuất mà chơi trò pháo hoa kiểu Trung Quốc này.


Tại Trung Quốc, người ta có thể quay vòng nợ liên tục trong một khoảng thời gian đáng kể, ví dụ thông qua việc ngân hàng trung ương cấp thêm vốn cho các ngân hàng quốc doanh để tránh tình trạng các khoản vay bị quá hạn. Điều này có thể tạm thời che giấu được sự mong manh về tài chính. Khi vòng quay tín dụng này còn tiếp diễn, các nhà quan sát có thể vẫn cho là hệ thống đang vận hành êm ái. Nhưng chỉ đến khi những bánh xe văng ra mà thôi!

 

Atif Ansar là Nghiên cứu viên tại Đại học Keble và Giám đốc Chương trình MSc tại Ban Quản trị Chương trình Chuyên ngành (MMPM) tại Trường Kinh doanh Saïd, Đại học Oxford.

 

Bent Flyvbjerg là Giáo sư BT đầu tiên và Chủ tịch Ban Quản trị Chương trình Chuyên ngành tại Trường Kinh doanh Saïd thuộc Đại học Oxford đồng thời là Nghiên cứu viên chuyên nghiệp tại Cao đẳng St Anne, Đại học Oxford.