Kinh tế Trung Quốc

8 đặc điểm mô tả toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc (Phần 1)

Thứ năm, 19-01-2017 17:06 3510

Chúng ta đã nghe quá nhiều về kinh tế Trung Quốc, nhưng phần lớn thông tin rời rạc và thiếu tổng quan. Bài viết dưới đây sẽ giúp tóm lược những đặc điểm cơ bản nhất của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này.

 

Nguồn: Jonathan Eckart - 8 facts about China's economy - World Economic Forum, 23/06/2016


Biên dịch: Dương Huy Quang


1. Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 1820, và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào thời điểm hiện tại.


Khi Tổng thổng Mỹ Monroe hướng tầm mắt vượt ra khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vào những năm 1820, ông đã thấy một thế giới rất khác với thế giới ngày nay của chúng ta: người Hy Lạp bắt đầu bạo động chống lại Đế chế Ottoman, Brazil tuyên bố độc lập khỏi Bồ Đào Nha, và tuyến đường sắt hiện đại đầu tiên của thế giới được khai trương tại nước Anh, nơi cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đang diễn ra. Trong khi đó, Trung Quốc, nơi triều đình nhà Thanh đang tiến đến thế kỷ thứ ba cai trị nước, nắm giữ tỷ trọng lớn nhất trong GDP toàn cầu.


200 năm sau, các nhà lãnh đạo kinh tế và các chuyên gia công nghệ toàn cầu quy tụ tại Trung Quốc trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp thứ 4. Trung Quốc giờ đây là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (và sẽ là lớn nhất nếu đo lường GDP theo ngang giá sức mua), sau khi đã tụt hậu trong thế kỷ 19 trở đi khi nhiều cuộc cách mạng công nghiệp liên tiếp diễn ra ở phương Tây. Tuy nhiên, đến năm 1978, Trung Quốc đã bắt đầu cuộc bám đuổi kinh tế chưa từng có tiền lệ.
 

Tỷ trọng GDP của các nước trong GDP toàn thế giới (%), từ năm 1700 tới năm  2030. Ảnh: Our World in DataTỷ trọng GDP của các nước trong GDP toàn thế giới (%), từ năm 1700 tới năm 2030. Ảnh: Our World in Data

 

2. Trung Quốc đã đưa nhiều người ra khỏi nghèo đói hơn bất cứ quốc gia nào khác


Khi bắt đầu cải cách vào năm 1978, Trung Quốc rất nghèo. GDP đầu người của nước này khi đó chỉ tương đương Zambia, chưa bằng ½ mức trung bình của Châu Á và thấp hơn 2/3 mức trunb bình của Châu Phi. Sau đó, Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân gần 10% cho tới tận năm 2014, nhờ đó tăng GDP bình quân đầu người lên gần 49 lần, từ 155 USD hiện hành (1978) lên 7.590 USD vào năm 2014 đồng thời đã đưa 800 triệu người khỏi tình trạng nghèo đói. Tại các trung tâm đô thị của Trung Quốc, nghèo đói dường như đã bị xóa hẳn.

 

Tuy nhiên, động lực phát triển của Trung Quốc cho đến nay đã tập trung tại miền duyên hải phía đông, trong khi miền nông thôn phía tây đang thụt lùi. Thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc vẫn thấp hơn trung bình thế giới; điều nay cho thấy nước này còn nhiều việc phải làm trong quá trình phát triển.

 

Tỷ lệ dân số sống trong nghèo đói cùng cực của các nước, 1980 – 2013.  Ảnh: Our World in DataTỷ lệ dân số sống trong nghèo đói cùng cực của các nước, 1980 – 2013. Ảnh: Our World in Data


Việc thế giới đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là giảm một nửa tình trạng nghèo đói cùng cực có sự đóng góp lớn của Trung Quốc, nước chiếm hơn ¾ thành tích giảm nghèo toàn cầu trong giai đoạn 1990-2005. Tương tự, sự phát triển này đã dẫn đến sự nổi lên nhanh chóng của giới trung lưu Châu Á mà chính nó đã củng cố cho sự hội tụ kinh tế toàn cầu và giảm bất bình đẳng giữa các nước.

Điều này đạt được như thế nào? Trung Quốc đã trở thành công xưởng của thế giới, họ chuyên tâm sản xuất các mặt hàng giá rẻ thâm dụng lao động và hướng đến xuất khẩu – điều này giúp tăng dần độ phức tạp của sản phẩm. Nói ngắn gọn, chiến lược tăng trưởng của Trung Quốc là lắp ráp và bán sản phẩm giá rẻ cho cả thế giới.


Xuất phát điểm của Trung Quốc không thuận lợi cho chiến lược này. Năm 1978, ¾ sản lượng công nghiệp của nước này thuộc về các doanh nghiệp nhà nước hoạt đông theo kiểu kế hoạch hóa tập trung. Nông nghiệp tập thể hóa là chuẩn mực được áp dụng. Dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình, vật giá từng bước được tự do hóa (tiếp sau một hệ thống giá kép ban đầu, theo đó cho phép tồn tại hai giá là giá theo tiêu chuẩn và giá thị trường). Chính quyền địa phương được tự chủ tài chính nhiều hơn và cũng được tưởng thưởng nhiều hơn để khuyến khích họ thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng, trong khi khu vực tư nhân cũng được mở rộng. Trung Quốc được mở cửa cho thương mại quốc tế, với sự hậu thuẫn của một hệ thống ngân hàng khép kín nhưng hiện đại hơn.


Tác động của sự tiến bộ về kinh tế của Trung Quốc đối với những số liệu thống kê về nghèo đói trên toàn cầu này không phải là điều ngạc nhiên bởi dân số Trung Quốc chiếm tới 18% tổng dân số thế giới. Hãy xem bản đồ dưới đây: Bản đồ chia thế giới thành 5 khu vực, mỗi khu vực trong số này có dân số bằng dân số Trung Quốc. Ví dụ, Trung Quốc có dân số bằng cả Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Australia, New Zealand và Tây Âu cộng lại.

 

Trung Quốc có dân số khổng lồ. Ảnh The New York TimesTrung Quốc có dân số khổng lồ. Ảnh The New York Times

3. Trung Quốc đã trải qua giai đoạn tăng trưởng GDP chậm lại rõ rệt


Năm ngoái (2015), kinh tế Trung Quốc có tỷ lệ tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 1990. Trong Quý 1/2016, nước này có tốc độ tăng trưởng GDP chỉ 6,7%. Điều gì đã xảy ra? Sản lượng sản xuất và xây dựng – động lực chính cho tăng trưởng của Trung Quốc cho đến thời điểm này - đã giảm mạnh. Nhưng ngoài ra còn có một số vấn đề khác khi ta xét đến ba yếu tố căn bản cho sự tăng trưởng dài hạn, đó là lao động, năng suất và vốn.

Diễn biến tăng trưởng GDP của Trung Quốc. Ảnh: Financial TimesDiễn biến tăng trưởng GDP của Trung Quốc. Ảnh: Financial Times


Thứ nhất, dân số Trung Quốc đạt đỉnh năm 2012 và lực lượng lao động của nước này giờ đây đang suy giảm.

 

Thứ hai, khi Trung Quốc đang đuổi kịp phần còn lại của thế giới về mặt kinh tế và đang tiến tới ranh giới đổi mới, những bước nhảy về năng suất không còn có thể đến từ sự chuyển giao tri thức mà phải được dẫn dắt bởi sự đổi mới trong nước. Đóng góp của năng suất yếu tố tổng hợp vào tăng trưởng đã tăng từ 11% trước năm 1978 lên hơn 40% kể từ đó đến nay. Sự tăng trưởng mạnh mẽ từ một nền tảng thấp là điều bình thường (xây dựng hạ tầng cơ bản là yếu tố thúc đẩy chủ yếu) nhưng sẽ khó để duy trì khi các yếu tố cơ bản đã được hoàn tất. Việc đuổi kịp bao giờ cũng dễ hơn việc đẩy ranh giới đổi mới đi xa hơ. Một sự dịch chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất có thể giúp GDP của Trung Quốc tăng thêm 5,6 nghìn tỷ USD vào năm 2030.


Cuối cùng, mức đầu tư hiện vốn đã cao của Trung Quốc (khoảng 50% GDP) sẽ khó có thể được duy trì do tổng nợ của nước này đã đạt 237% GDP (Quý 1/2016), tăng so với mức 148% tại thời điểm cuối năm 2007. Tuy nhiên, nhu cầu và đầu tư trong nước đang tăng trở lại, trong đó tốc độ tăng trưởng đầu tư cao gấp hai lần tốc độ tăng trưởng GDP trong quý 4/2015. Lĩnh vực nhận đầu tư chính là nhà ở và phát triển bất động sản.

 

4. Khu vực tư nhân là động lực chính cho tăng trưởng và tạo việc làm


Giai đoạn từ năm 2010 đến 2012, các doanh nghiệp tư nhân tạo ra từ 2/3 đến ¾ GDP của Trung Quốc; khu vực tư nhân cũng chiếm tới 90% xuất khẩu của Trung Quốc.


Như biểu đồ dưới đây, khu vực thứ ba (tức khu vực dịch vụ) giờ đây chiếm đa số GDP; khu vực dịch vụ tài chính chiếm trên 80% lợi nhuận kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê quốc gia Trung Quốc Khu vực thứ ba cũng là nguồn tạo công ăn việc làm lớn nhất (36,1%), so với 33% của khu vực nông nghiệp và 30,3% của khu vực công nghiệp.

 

Tỷ trọng GDP theo khu vực kinh tế (%. năm 2014)Tỷ trọng GDP theo khu vực kinh tế (%. năm 2014)


Đây là diễn biến khá gần đây đồng thời là một phần của quá trình tái cân bằng nền kinh tế gần đây thường được thảo luận mà Trung Quốc đang tiến hanh. Xu hướng chi tiêu tiêu dùng ngày càng đi nhiều vào dịch vụ. Ví dụ, các hộ gia đình ở thành phố dành 40% chi tiêu của mình vào các dịch vụ như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, giải trí và du lịch, tăng so với mức 20% của 20 năm trước đây. Tỷ trọng của tiêu dùng trong GDP đã tăng trong 5 năm liên tục và hiện chiếm 13,6% GDP của Trung Quốc. Trong khi đây là một nền tảng thấp, xu hướng tăng trưởng này là một thay đổi đáng chú ý.


Dịch vụ cũng là động lực quan trọng nhất cho khâu tạo việc làm. Với mỗi mức tăng 1% trong sản lượng dịch vụ, có tương ứng 1 triệu việc làm được tạo ra, so với mức 0,5 triệu cho mỗi 1% tăng trưởng của sản lượng công nghiệp. Mức lương ngoài khu vực nông nghiệp nhìn chung cao gấp 3 lần mức lương trong khu vực này; với các điều kiện khác như nhau, thì điều này giúp mọi người có cuộc sống tốt hơn.

 

Đọc Phần 2