Kinh tế Trung Quốc

So sánh chính sách của Ấn Độ và Trung Quốc đối với kiều dân trong phát triển kinh tế

Chủ nhật, 12-02-2017 09:01 646

Cộng đồng Ấn kiều và Hoa kiều ở hải ngoại đều đóng vai trò quan trọng với sự phát triển kinh tế của Ấn Độ và Trung Quốc. Hai nước đều đang khai thác hiệu quả các nguồn lực này; nhưng họ đều có thể học hỏi ở nhau ở một số điểm. Những chiến lược như thế này cũng đáng kể Việt Nam nghiên cứu, áp dụng đối với cộng đồng Việt kiều trên thế giới.

 

Nguồn: What can India and China learn from each other about diaspora policy? - Rachel Brown, 02/02/2017

 

 Biên dịch: Dương Huy Quang

 

 “Chúng tôi đang biến chảy máu chất xám thành lợi ích  từ chất xám”, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi phát biểu vào tháng 1 vừa qua tại buổi lễ kỷ niệm ngày Pravasi Bharatiya Divas – ngày lễ vinh danh cộng đồng Ấn Kiều tại nước ngoài. Năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng phát biểu tương tự, cụ thể ông nói Hoa Kiều tại hải ngoại “có thể đóng một vai trò không thể thay thế trong việc hiện thực hóa Giấc mơ Trung Hoa về Sự phục hung dân tộc bởi họ có lòng ái quốc cũng như tiềm lực lớn về vốn, tài năng, nguồn lực và các mối quan hệ làm ăn”. Với khoảng 15,6 triệu Ấn kiều và 9,5 triệu Hoa kiều ở hải ngoại (không tính khoảng 25 triệu người gốc Ấn và 48 triệu người gốc Hoa), Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước có cộng đồng kiều dân lớn nhất thế giới. Hai nước này cũng có nhiều điểm chung về mong muốn và thách thức trong chính sách đối với cộng đồng này: cả hai đều muốn hưởng lợi từ thành công của những người đồng bào ở nước ngoài, nhưng đều vật lộn với việc không có quốc tịch kép cùng các vấn đề về chất lượng cuộc sống – những trở ngại này đều có khả năng sẽ khiến những người muốn trở về tổ quốc ngã lòng.

 

Tuy nhiên, bất chấp những điểm tương đồng này, cả hai nước đều tiếp cận cộng đồng kiều dân của mình theo những cách thức khác nhau. Đối với Trung Quốc, quan hệ giữa chính quốc và kiều dân hoàn toàn phục vụ mục đích đưa vốn và con người trở về ngõ hầu thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong khi đó, với Ấn Độ, quan hệ này tập trung vào vai trò của cộng đồng Ấn kiều như là nguồn cung ứng sức mạnh mềm và chuyên môn cao ngay cả khi cộng đồng này không trở về Ấn Độ, mặc dù có vẻ như chính phủ của ông Modi ngày càng tập trung nỗ lực vào việc thu hút đầu tư từ “khúc ruột ngàn dặm” này.

 

Không có nơi nào khác mà sự khác biệt này rõ ràng hơn là ở phong cách mà các nhà lãnh đạo Ấn Độ và Trung Quốc thể hiện khi tương tác với cộng đồng kiều dân của mình. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiếm khi gặp gỡ các nhóm Hoa Kiều ở hải ngoại trong các chuyến công cán nước ngoài. Họ ưa thích các sự kiện chính thức được tổ chức trong nước, ví dụ như Hội nghị các Nhà công nghiệp và Doanh nhân Hoa kiều tại hải ngoại toàn thế giới hay Hội nghị Hữu nghị các Hiệp hội Hoa kiều tại hải ngoại. Những cuộc gặp mặt với các doanh nhân mặc vest lịch lãm tại Đại lễ đường Nhân dân khác một trời một vực với những bài diễn văn mang tính quốc tế của Thủ tướng Ấn Độ Modi, qua đó ông tương tác với những đồng bào ở hải ngoại của mình ngay tại nước cư trú của họ. Những cuộc gặp như thế này thu hút hàng ngàn người tập trung tại các quảng trường từ Madison Square Garden của thành phố New York tới Sân vận động Wembley Stadium của thành phố London. Những sự kiện như vậy giúp vun đắp cho quyền lực mềm của Ấn kiều và các quan chức hy vọng rằng cộng đồng Ấn kiều có thể đóng vai trò như những “đại sứ không chính thức cho Ấn Độ tại đất nước của mình”, thể hiện giá trị của mối quan hệ với Ấn Độ cho chính phủ  nước sở tại.

 

Vai trò kinh tế của cộng đồng kiều dân đối với hai nước Ấn Độ và Trung Quốc cũng khác nhau rõ rệt. Chính phủ Trung Quốc từ trước đến nay coi cộng đồng Hoa kiều như nguồn cung cấp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong nhiều thập niên, Trung Quốc vừa tiếp nhận tổng lượng vốn FDI nói chung nhiều hơn (mặc dù năm 2015 Ấn Độ đã vượt qua Trung Quốc về chỉ số này) vừa có tỷ trọng vốn FDI do kiều dân đóng góp lớn hơn so với Ấn Độ. Trong các thập niên 1990 và 2000, cộng đồng Hoa kiều đóng góp ước tính từ 50 đến 70% tổng lượng vốn FDI Trung Quốc tiếp nhận được, trong khi tỷ trọng đóng góp của cộng đồng Ấn kiều cho Ấn Độ chỉ từ 3-4%. Một phần lý do để Trung Quốc có thể thu hút được nhiều vốn đầu tư từ Hoa kiều như vậy là do nhiều Hoa kiều sinh sống ngay sát đại lục, ví dụ như tại Hong KongĐông Nam Á. Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc cũng chủ động ve vãn cộng đồng này để tranh thủ sự ủng hộ của họ; đơn cử, năm 1990, Trung Quốc ban hành luật bảo vệ quyền lợi của Hoa kiều trở về nước. Trong khi đó, cộng đồng Ấn kiều lúc này xa cách Ấn Độ cả về địa lý lẫn chính trị nên ít có ảnh hưởng tới tiến trình tự do hóa chính sách FDI của nước này.

 

Ấn kiều và Hoa kiều đều đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Ấn Độ và Trung Quốc. Ảnh: InternetẤn kiều và Hoa kiều đều đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Ấn Độ và Trung Quốc. Ảnh: Internet

 

Tuy nhiên, giờ đây, chính phủ của ông Modi đang hy vọng cộng đồng Ấn kiều có thể học theo tấm gương của Hoa kiều. Sreeram Chaulia, trưởng khoa tại Trường Jindal về Các vấn đề quốc tế, đồng thời là tác giả một cuốn sách gần đây về chính sách đối ngoại của chính phủ hiện hành, lập luận: “Ngoài các mục tiêu khác, mục tiêu chính của Học thuyết Modi về kiều dân là tối đa hóa nguồn vốn FDI từ cộng đồng Ấn kiều để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ”. Ông Modi đã khuyến khích Ấn kiều đầu tư vào các dự án xã hội trong các lĩnh vực như cải thiện vệ sinh nông thôn, và trong hai năm trở lại đây các quy định về đầu tư đối với người Ấn ở nước ngoài đã được nới lỏng. Vào ngày lễ Pravasi Bharatiya Divas năm nay, ông Modi thậm chí còn tuyên bố: “Với tôi, FDI có hai ý nghĩa.Ý nghĩa thứ nhất là Đầu tư trực tiếp nước ngoài, và ý nghĩa còn lại là Sự phát triển trước hết của Ấn Độ (First Development of India)”. Tuy nhiên, vẫn còn đó những thách thức Ấn Độ cần khắc phục trong việc thu hút đầu tư của Ấn kiều, cụ thể là những lo ngại về cơ sở hạ tầng, tệ quan liêu và những quy định quản lý liên quan dến thị trường lao động.

 

Ngoài đầu tư, chính phủ Trung Quốc cũng tích cực thu hút các giới học thuật và doanh nhân trở về nước để hỗ trợ sự tăng trưởng và đổi mới kinh tế. Thành lập được 2008, chương trình Nghìn Tài năng có mục đích khuyến khích các học giả và nhà đổi mới nước ngoài, đặc biệt là người Hoa ở hải ngoại trong lĩnh vực khoa học công nghệ, làm việc tại Trung Quốc thông qua một loạt những lợi ích về tài chính cùng những ưu đãi khác. Tuy nhiên, chương trình này không phải là không có vấn đề, bao gồm những cáo buộc về gian lận, tình trạng các trường đại học chi dùng sai mục đích hoặc việc các đối tượng của chương trình chỉ trở về nước đảm nhiệm những vị trí bán thời gian.

 

Trong khi Trung Quốc mời gọi Hoa kiều trở về bằng lợi ích, thì Ấn Độ làm rất tốt việc duy trì các mối liên hệ với cộng đồng Ấn kiều ở hải ngoại, đồng thời tận dụng các mối liên hệ trong nước, bất chấp việc nhiều Ấn kiều vẫn ở nước ngoài. Ví dụ, các kỹ sư và doanh nhân công nghệ làm việc ngoài lãnh thổ Ấn Độ có thể chia sẻ kiến thức một cách nhanh chóng và hiệu quả với các doanh nghiệp tại Ấn Độ, và chính những mối quan hệ như vậy đã giúp xây dựng ngành công nghệ thông tin lớn của nước này. Ngoài ra, cộng đồng Ấn kiều ở nước ngoài cũng “có xu hướng thuê ngoài các dịch vụ từ Ấn Độ nhiều hơn so với những người không phải gốc Ấn Độ”, theo một nghiên cứu của một công ty chuyên thuê thầu bên ngoài. Trong khi một số nhà khoa học và doanh nhân có thể chọn cách quay trở về, thì Ấn Độ vẫn có thể có được những lợi ích kinh tế nhất định nếu họ không làm như vậy (tức quay về Ấn Độ - ND).

 

Chính phủ Ấn Độ cũng đi xa hơn Trung Quốc trong việc nới lỏng các quy định về đi lại và cư trú cho cộng đồng Ấn kiều, điều này giúp việc trao đổi qua lại diễn ra dễ dàng hơn. Lần lượt vào các năm 2002 và 2005, Ấn Độ đã bắt đầu thực hiện cấp hai loại thẻ là thẻ Người gốc Ấn (Person of Indian Origin - PIO) và thẻ Công dân Ấn ở Hải ngoại (Overseas Citizen of India - OCI). Chính phủ của ông Modi đã tiến thêm một bước bằng cách gộp chung hai loại thẻ này để nhiều Ấn kiều có thể được hưởng thị thực nhập cảnh Ấn Độ suốt đời cũng như những lợi ích nhất định về giáo dục và tài chính (không bao gồm lợi ích chính trị) ở mức đáng kể so với những người có tư cách công dân. Hệ thống này của Ấn Độ được cho là đã tạo cảm hứng để Trung Quốc có thể đưa vào áp dụng “thẻ Hoa kiều hải ngoại” mà nhiều người đang xôn xao chào đón. Một blogger Trung Quốc đã ca ngợi viễn cảnh về một chiếc thẻ Hoa kiều, đồng thời nhấn mạnh rằng “tổng cộng 11 chiếc thẻ được cấp (tính tới năm 2010) đã thúc đẩy đáng kể số lượng người Ấn tài năng ở hải ngoại quay về cũng như thăm viếng quê hương”. Tuy nhiên, vào tháng 3, Văn phòng Các vấn đề Hoa kiều của Hội đồng Nhà nước (Trung Quốc) tuyên bố cơ quan này không có kế hoạch phát hành thẻ Hoa kiều để cấp quy chế thường trú cho người Hoa ở hải ngoại. Mặc dù vậy, cơ quan này cũng thừa nhận đây là một vấn đề đáng quan tâm trong chính sách đối với Hoa kiều.

 

Trên tất cả, những khác biệt về chiến lược đối với kiều dân của hai nước có thể xuất phát từ những khác biệt trong hệ thống chính quyền của họ. Tại Trung Quốc, quan hệ với cộng đồng Hoa kiều đem lại những lợi ích về kinh tế và văn hóa, nhưng ít có lợi ích về chính trị. Nhưng ở một nền dân chủ như Ấn Độ, sẽ là khôn ngoan nếu duy trì mối liên hệ với cộng đồng Ấn kiều thông qua những bài diễn văn ở nước ngoài hay việc cấp thị thực cho họ. Trong khi những người được cấp thẻ PIO hoặc OCI không thể tham gia bầu cử hay nắm giữ các chức vụ trong chính quyền, điều này không có nghĩa là họ không phải là một lực lượng chính trị thông qua các khoản đóng góp và các nhóm hoạt động như Quốc đại Ấn Độ hải ngoại tại Mỹ và Những người bạn của Đảng Bharatiya Janata (BJP). Trong khi vẫn lưu tâm đến điều này, thì ngay cả khi chính phủ Ấn Độ nhìn nhận mô hình của Trung Quốc về việc sử dụng cộng đồng Hoa kiều như một nguồn FDI và nhân sự có trình độ, các quan chức (Ấn Độ) cũng không nên quên mất những thế mạnh của mô hình hiện hữu trong việc khuếch trương quyền lực mềm và sự chuyển giao tri thức.

 

Rachel Brown là nghiên cứu viên về Nghiên cứu Châu Á tại Hội đồng Quan hệ đối ngoại.