Kinh tế Việt Nam

Đâu là những trở ngại lớn nhất cho các startup tại Việt Nam?

Chủ nhật, 25-06-2017 21:56 280

Trong khi chính phủ cần tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho các startup, chính phủ nên tránh hỗ trợ quá mức. Hỗ trợ quá mức sẽ làm giảm quá trình cạnh tranh, dẫn tới việc hình thành thêm một thế hệ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái khác, từ đó làm đổ vỡ mục đích ban đầu là tăng cường tính độc lập và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, chính phủ cần thiết lập một hệ thống song song nhằm tư vấn và kiểm soát sự phát triển của các startup, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của các doanh nghiệp này.

 

 


Nguồn: Linh Tong - "Startups in Vietnam", East Asia Forum. 16/06/2017

 

Biên dịch: Dương Huy Quang


Tại Việt Nam, năm 2016 được gọi là ‘năm quốc gia khởi nghiệp’. Chưa bao giờ chính phủ Việt Nam thể hiện nhiều sự hậu thuẫn như vậy cho các startup. Tinh thần khởi nghiệp được truyền thông quốc gia nhấn mạnh như là động lực chính cho nền kinh tế Việt Nam và được đề cập đến trong hầu hết các bài phát biểu chính thức của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc.

 

Chỉ tính riêng 4 tháng đầu năm 2017, đã có 39.580 startup mới được thành lập với tổng vốn đầu tư được đăng ký 369,6 nghìn tỷ đồng (khoảng 17 tỷ USD), tăng 14% về số lượng startup và 54% về số vốn đầu tư được đăng ý so với quý 1/2016. Theo Bộ kế hoạch & Đầu tư Việt Nam, trong số 110.000 doanh nghiệp đăng ký năm 2016, hơn 90% đã nộp thuế, điều này thể hiện dấu hiệu các doanh nghiệp đang hoạt động ổn định.


Nhằm đánh giá tiềm năng thực sự của các startup tại Việt Nam, chúng ta phải nhìn vào những thay đổi lớn lao trong kinh tế chính trị của nước này – đặc biệt là cuộc chiến chống tham nhũng. Các lãnh đạo như Trịnh Xuân Thanh, Vũ Huy Hoàng và gần đây là Đinh La Thăng đã bị cáo buộc gây tổn thất nhiều triệu USD trong thời gian đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo tại — doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lớn nhất Việt Nam.


Trong khi xu hướng chống tham nhũng này được nhìn nhận rộng rãi như là một cuộc đấu đá nội bộ trong đảng cộng sản và là một nỗ lực để ngăn chặn tình trạng mất tin tưởng về chính trị trong dân chúng Việt Nam, nó cũng báo hiệu việc chính phủ đã công nhận sự thiếu hiệu quả của các DNNN và đây là điều mở đường cho quá trình tư nhân hóa. Chính phủ hiểu rằng sự tự do hóa kinh tế là yếu tố bắt buộc để duy trì quyền lực của chế độ.


Bên cạnh đó còn có những yếu tố kinh tế sống còn. Ví dụ, cuộc khủng hoảng giá dầu năm 2014 khiến thu ngân sách từ dầu giảm 57%, mất 255,3 triệu USD. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP đã không thành trong khi các hiệp định thương mại tự do với Nhật Bản, Trung Quốc và Trung Quốc đã đến hạn thực hiện, khiến Việt Nam không thể tiếp tục trì hoãn việc cắt giảm thuế. Việc hàng Thái Lan ồ ạt tràn ngập các siêu thị Việt Nam cũng cho thấy mức độ cạnh tranh ngày càng tăng mà các nhà sản xuất trong nước đang phải đối mặt ngay trên sân chơi của mình. Một lý do của việc này là năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn so với các nước ASEAN khác và chính phủ cần thực thi những cải cách nghiêm túc để cải thiện cấu trúc lao động.


Nợ công của Việt Nam được báo cáo là đã tăng nhanh gấp 3 lần tốc độ tăng GDP, lên mức 116 tỷ USD vào cuối năm 2015, bằng 62,2% tổng GDP. Các yếu tố về xã hội như tình trạng thất nghiệp, dân số lão hóa và sự ngày càng phổ biến của mạng Internet và truyền thông mạng xã hội – những yếu tố này củng cố sự phản biện từ dư luận cùng sự hoạt động xã hội – cũng là động cơ thúc đẩy việc chính phủ khuyến khích các startup và tự do hóa kinh tế để giảm bớt sự bất mãn của xã hội. Sự tiến bộ công nghệ, đặc biệt là CNTT, đã xóa bớt rào cản gia nhập cho các doanh nghiệp tư nhân và thu nhập đầu người ngày càng cao đã đem lại “quy mô thị trường” phù hợp để các startup nở rộ.


Tuy nhiên, thành công thực sự của các startup lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Trong những tháng đầu năm 2017, 4.057 doanh nghiệp đã giải thể và 27.400 doanh nghiệp khác đã dừng hoạt động.


Trở ngại lớn nhất cho các startup Việt Nam là việc tiếp cận tài chính. Tình trạng tiếp cận nguồn tài chính và hợp đồng không công bằng và không bình đẳng, đặc biệt là các nguồn tài chính và các hợp đồng từ nhà nước, là vấn đề muôn thuở tại Việt Nam, nhất là với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện tại, hầu hết nguồn vốn đều đến từ các công ty đầu tư rủi ro nước ngoài bởi không có đủ các quỹ mạo hiểm trong nước có khả năng tài trợ cho các startup.


Vấn đề lớn thứ hai là tệ tham nhũng trong khu vực không chính thức. Trong khi tình trạng này ở các nước xung quanh là ít nghiêm trọng hơn, việc nó có mặt ở khắp mọi nơi tại Việt Nam vẫn đang làm xói mòn hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp và làm tang chi phí cũng như rủi ro cho các nhà khởi nghiệp.


Lực lượng lao động chưa được đào tạo đầy đủ thường là trở ngại thứ ba trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, yếu tố này gần như không liên quan đến các startup, bất chấp việc nó là mối quan ngại lớn cho các doanh nghiệp lớn. Các nhà khởi nghiệp thường là những người có trình độ học vấn và quyết tâm cao, do đó thường thì họ không phải đối mặt ngay với vấn đề này. Thay vào đó, điều này thường trở thành vấn đề sau khi họ đã thành lập doanh nghiệp và cần mở rộng quy mô của nó.


Cuối cùng, sự thiếu vắng một hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh và một tinh thần hợp tác cùng chiến thắng (win-win) giữa các doanh nghiệp trong nước cũng là một thách thức khác cho sự phát triển của các startup Việt Nam. Như hầu hết những người hoài nghi nhận định, các startup tốt nhất của Việt Nam đều biệt lập với hệ sinh thái của nước này.


Chương trình quốc gia Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đã được phê duyệt trở thành một chiến dịch startup toàn quốc. Tuy nhiên, điều quan trọng là chính phủ không nên nóng vội đẩy mạnh để có kết quả nhanh chóng về số lượng trong khi chưa đạt yêu cầu về chất lượng. Chính phủ nên chọn một mô hình hệ sinh thái startup phù hợp thay vì cố gắng mô phỏng mô hình của Mỹ và nên nhớ vai trò của mình như là một tác nhân theo dõi, chứ không phải một tác nhân can thiệp.


Trong khi chính phủ cần tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho các startup, chính phủ nên tránh hỗ trợ quá mức. Hỗ trợ quá mức sẽ làm giảm quá trình cạnh tranh, dẫn tới việc hình thành thêm một thế hệ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái khác, từ đó làm đổ vỡ mục đích ban đầu là tăng cường tính độc lập và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, chính phủ cần thiết lập một hệ thống song song nhằm tư vấn và kiểm soát sự phát triển của các startup, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của các doanh nghiệp này.


Linh Tong là Biên tập viên phụ trách khu vực Đông Á tại Eurasia Diary, International Eurasia Press Fund.