Kinh tế Việt Nam

Cải cách cấu trúc nền kinh tế: Ván bài sinh tử của Việt Nam

Thứ ba, 03-01-2017 13:53 812

Việc thực hiện thành công những cải cách này có thể quyết định việc thế hệ người Việt Nam sau đây có vươn tới được mức sống bằng với những người láng giềng Malaysia hay không, hay vẫn chỉ quanh quẩn vùng vẫy trong bẫy thu nhập trung bình.


Nguồn: Suiwah Leung, ANU "Vietnamese structural reforms still in doubt" - East Asia Forum, 02/1/2017

 

Biên dịch: Dương Huy Quang

 

Kinh tế Việt Nam đã cho thấy sự dẻo dai khi phải đối mặt với những biến động bất lợi trên toàn cầu. Tăng trưởng GDP của Việt Nam theo dự báo của Ngân hàng thế giới (WB) đạt khoảng 6% trong năm 2016 – cao hơn các nền kinh tế lớn củ ASEAN bao gồm Indonesia, Malaysia và Thailand. Sự tăng trưởng này có được chủ yếu là nhờ nhu cầu trong nước vững mạnh và hiệu quả cao trong lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, viễn cảnh kinh tế của Việt Nam là khá hỗn tạp bởi sự bất trắc về kinh tế ngày càng tăng trên quy mô toàn cầu sẽ thách thức mức độ cam kết của Hà Nội trong những cải cách về cấu trúc trong trung hạn.


Doanh số bán lẻ tăng 9,5% trong năm 2016 cho thấy mức độ tin tưởng cao của người tiêu dùng, ngoài ra còn có sự hậu thuẫn của các đợt tăng lương trong khu vực nhà nước cũng như sự gia tăng thu nhập nói chung. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) đã tăng từ mức 51,7 vào tháng 10/2016 lên 54 vào tháng 11/2016 (chỉ số lớn hơn 50 thể hiện sự mở rộng sản lượng sản xuất). Nhưng việc cắt giảm sản lượng dầu, nhu cầu từ thị trường nước ngoài yếu và sự sụt giảm sản lượng nông nghiệp do tình trạng hạn hán đã ngăn tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu chính phủ đề ra là từ 6,5 đến 6,8% cho năm 2016.


Nhu cầu trong nước cho đến nay đã được chống đỡ đáng kể bởi sự tăng trưởng tín dụng (tăng 19% so với cùng kỳ năm trước) và chi tiêu của chính phủ; những yếu tố này – nếu không được kiểm soát – có thể sẽ đem lại rắc rối trong trung hạn. Tuy vậy, lúc này Việt Nam vẫn đang duy trì được ổn định vĩ mô. Lạm phát cơ bản ở mức thấp còn lạm phát thông thường ở mức 4,9% so với năm ngoái; nguyên nhân chủ yếu là do sự gia tăng giá cả giáo dục và y tế theo quyết định của nhà điều hành.


Đồng VND vẫn duy trì mức độ ổn định hợp lý so với đồng USD trong phần lớn năm 2016. Dự trữ ngoại hối tăng đều, mặc dù chỉ ở mức 2,6 tháng nhập khẩu, thấp hơn “vùng an toàn” là 3 tháng theo quy tắc kinh nghiệm.

 


Bất chấp sự tập trung đang được hướng ngày càng nhiều vào vấn đề hiệu quả của chi tiêu công và thu thuế, thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao, khoảng 6% GDP. Do vậy, nợ công hiện đã ở sát mức nguy hiểm là 65% GDP. Phần nhiều trong số nợ công này nằm ở các khoản vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) dài hạn. Những khoản vay này có khả năng sẽ được quay vòng, nhưng một phần trong số này sẽ cần phải được tái tài trợ trên thị trường vốn quốc tế, lại đúng vào thời điểm khi lãi suất tại Mỹ được trông đợi là sẽ tăng. Bất chấp điều này, việc Việt Nam chỉ mới tiếp xúc hạn chế với luồng vốn đầu tư tư nhân quốc tế gián tiếp cho đến nay đã giúp nước này tránh được một số tác động tiêu cực nhất trên thị trường.


Trong khi đó, Việt Nam đến nay đã và đang tiếp tục cải thiện khung pháp lý và điều hành của mình. Việt Nam đã thăng tiến trong bảng xếp hạng Môi trường kinh doanh củaWB, từ vị trí 91 (trong số 189 nước) năm 2011 lên vị trí 82 (trong số 190 nước). Nhưng theo một báo cáo của WB, Việt Nam tiếp tục tụt phía sau các nước ASEAN khác như Singapore, Malaysia và Thailand về mặt này.


Nhìn về tương lai trung hạn, tháng 11/2016 vừa rồi, Quốc hội Việt Nam đã thông qua kế hoạch tái cấu trúc kinh tế mới cho giai đoạn 2016–2020. Kế hoạch này nhấn mạnh tầm quan trọng của một khu vực tư nhân trong nước lớn mạnh và sự cần thiết phải tiếp tục tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và khu vực tài chính. Kế hoạch cũng phác thảo sự cần thiết cải thiện năng suất lao động và năng suất đa yếu tố (multi-factor productivity), kể cả thông qua việc tái cấu trúc thị trường quyền sử dụng đất và phát triển nguồn lực con người.


Thậm chí vào thời điểm trước tháng 11/2016, cải cách DNNN cũng đã được đẩy nhanh đáng kể. Cuối cùng thì chính phủ Việt Nam dường như cũng đã sẵn sàng bỏ độc quyền trong các ngành hàng tiêu dùng như tại công ty sữa Vinamil và các doanh nghiệp sản xuất bia rượu như Bia Sài Gòn (Sabeco) và Bia Hà Nội (Habeco). Các đợt thoái vốn nhà nước sắp diễn ra tới đây tại các doanh nghiệp này đang thu hút sự chú ý đáng kể cả trong và ngoài nước. Hy vọng xung lực này sẽ tiếp tục được duy trì và các doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng như người tiêu dùng Việt Nam sẽ được giải thoát khỏi một vài trong số những gánh nặng tốn kém mà các SOE từ trước đến giờ vẫn đang áp đặt.

 


Một chương trình tái cấu trúc DNNN được đẩy nhanh cũng sẽ mất cả chặng đường dài mới có thể giải quyết được hiện trạnh nợ xấu (NPL) trong hệ thống ngân hàng. Về mặt chính thức, thì tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản của các ngân hàng đã giảm xuống còn khoảng 3,7% kể từ khi Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) ra đời năm 2013. Nhưng theo cơ chế hoạt động của VAMC, bản thân các ngân hàng – chứ không phải VAMC – vẫn là “chủ sở hữu” các khoản nợ xấu. Các ngân hàng được phép đổi nợ xấu lấy “trái phiếu đặc biệt” do VAMC phát hành và có thể dùng các trái phiếu này để vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước.


Điều này có nghĩa là những ngân hàng mất thanh khoản trên thực tế đã được bơm thanh khoản tạm thời, nhưng vài năm sau sẽ phải bán lại các trái phiếu đặc biệt này. Nhưng nếu các ngân hàng không làm được điều này, hệ quả xảy ra sẽ là sẽ có thêm nhiều ngân hàng bị phá sản hoặc nhà nước sẽ phải dùng ngân sách để bơm vốn cho các ngân hàng này. Rõ ràng là, một môi trường hoạt động được cải thiện cho các ngành kinh doanh khác nhau tại Việt Nam sẽ giảm nhẹ gánh nặng nợ xấu cũng như sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước tại thời điểm mà tình hình tài chính và vấn đề nợ công của Việt Nam đang chịu sức ép rất lớn.


Thời gian không còn nhiều và đội ngũ lãnh đạo mới của Việt Nam được bầu sau Đại hội Đảng năm nay (2016) chắc chắn sẽ đối mặt với những thách thức to lớn. Trong bối cảnh tình hình thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng nhiều bất trắc, đặc biệt là thảm trạng hấp hối của những hiệp định thương mại như TPP, lãnh đạo Việt Nam cần một quyết tâm chính trị lớn để có thể ban hành những cải cách vô cùng cần thiết trong giai đoạn từ 3 đến 5 năm tới.


Đây thực sự là ván bài cực kỳ đắt giá. Việc thực hiện thành công những cải cách này có thể quyết định việc thế hệ người Việt Nam tiếp theo có vươn tới được mức sống bằng với những người láng giềng Malaysia hay không, hay vẫn chỉ quanh quẩn vùng vẫy trong bẫy thu nhập trung bình.


Suiwah Dean-Leung là Phó Giáo sư danh dự chuyên ngành Kinh tế học tại Trường Chính sách công Crawford, thuộc Đại học Quốc gia Australia.